VẦN TRONG THƠ

Thảo luận trong 'Thông tin' bắt đầu bởi Admin, 13/4/15.

  1. Admin

    Admin Administrator Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    12/4/15
    Bài viết:
    41
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    VẦN TRONG THƠ
    (Nguồn Internet)

    I/- Nguyên âm, phụ âm và dấu :

    1. Nguyên âm và phụ âm :
    Tiếng Việt gồm có 10 nguyên âm (a, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y), 2 bán nguyên âm (ă, â), 16 phụ âm đơn (b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, r, s, t, v, x), 9 phụ âm kép (ch, gi, kh, ng, nh, ph, qu, th, tr) không kể các phụ âm gh, ngh vì chữ h thêm vào chỉ có hình thức mà không đọc.


    2. Dấu :
    Trong tiếng Việt có: không dấu, huyền (`), sắc (‘), nặng (.), hỏi (?), ngã (~).

    II/- Âm :

    Âm là gốc của một chữ sau khi bỏ các phụ âm ở đầu chữ và các dấu, được cấu tạo bởi 1 hoặc nhiều chữ cái, bắt đầu bằng một hay nhiều nguyên âm và có thể kết thúc bằng một hay nhiều phụ âm.
    Ví dụ :
    - Ta, Là, Má, Hạ, Cả, Xã : các chữ này đều mang âm “a” nhưng khác phụ âm đầu và dấu.
    - Vương, Trường, Hướng, Lượng, Tưởng, Dưỡng : đều cùng âm “ương” nhưng khác phụ âm đầu và dấu.

    III/- Thanh :

    Thanh là sự khác nhau trong cách phát âm, cũng là sự khác nhau trong độ cao thấp của một âm.
    Thanh được chia thành 2 nhóm : Bằng và Trắc.

    1. Bằng : Gồm các chữ không dấu hoặc có dấu huyền
    - Phù bình thanh : các chữ không dấu, ví dụ: anh luôn yêu em.
    - Trầm bình thanh : các chữ có dấu huyền, ví dụ: đời người buồn nhiều.

    2. Trắc : Gồm các chữ có dấu sắc, nặng, hỏi ngã
    - Trầm thượng thanh : các chữ có dấu hỏi, ví dụ: giả sử tưởng.
    - Phù thượng thanh : các chữ có dấu ngã, ví dụ: sẽ vẫn mãi.
    - Trầm khứ thanh : các chữ có dấu nặng, ví dụ: hẹn đợi mộng.
    Trầm nhập thanh: các chữ có dấu nặng mà tận cùng là phụ âm c, ch, p, t. Ví dụ: mật cực ngọt.
    - Phù khứ thanh : các chữ có dấu sắc, ví dụ: cứ nhớ đấy.
    Phù nhập thanh: các chữ có dấu sắc mà tận cùng là phụ âm c, ch, p, t. Ví dụ: sắp hết thích.

    Nôm na có thể hiểu: các dấu huyền, nặng, hỏi là thanh “trầm”, còn không dấu, dấu sắc và ngã là thanh “bổng”. Trong mỗi câu, ta nên sắp xếp phân bổ các thanh trầm bổng để tạo âm điệu du dương cho bài thơ.

    Ví dụ một vài trường hợp các thanh xếp từ thấp đến cao :
    - nhạc, nhạng, nhảng, nhàng, nhang, nháng, nhãng, nhác
    - thịch, thịnh, thỉnh, thình, thinh, thính, thĩnh, thích
    - ngọt, ngọn, ngỏn, ngòn, ngon, ngón, ngõn, ngót
    - sập, sậm, sẩm, sầm, sâm, sấm, sẫm, sấp

    IV/- Vần (vận) :

    Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ. Đây là một quy luật để nối các câu trong bài thơ với nhau. Thường vần được dùng để nối câu gieo vào chữ cuối cùng của câu thơ.

    Những chữ được gọi là vần với nhau khi chúng có cùng âm và chung một nhóm thanh. Ví dụ :
    - anh, đành, tranh, hành : vần với nhau.
    - ánh, lạnh, bảnh, rãnh : vần với nhau.
    Nhưng : anh và ánh thì không vần với nhau.

    1. Chính vận : Chính vận là các chữ hoàn toàn có cùng âm và nhóm thanh.
    Ví dụ: tình - xinh, lái - hại - trải - mãi ...

    2. Thông vận : Thông vận (vần thông) là các chữ có âm đọc gần giống nhau nhưng viết khác nhau.
    Ví dụ: hòa - ca, tình - thanh, đầy - tay, bật - tắt, lỗi - tủi ...

    * Một số vần thông với nhau :
    - Các chữ ă, â đi cùng phụ âm sau nó thì thông vần với nhau. Ví dụ: ăng - âng, ắt - ất ...
    - Vần bằng :
    a - ơ
    e - ê - i
    o - ô - u
    ơ - ư
    ai - ay - ây
    ai - oi - ôi - ơi - ươi - ui
    ao - eo - êu - iêu - iu - ưu
    am - ơm
    an - ơn
    êm - im
    on - un
    ăn - ân - uân
    en - in - iên - uyên
    on - ôn - uôn
    ang - ương
    ăng - âng - ưng
    anh - ênh - inh - oanh - uynh
    ong - ông - ung
    uông - ương
    - Vần trắc :
    é - ị
    ổ - ũ
    ọ - ủa
    ỗ - ữa
    ạc - ước
    ạm - ợm
    áo - iễu
    ấc - ực
    ật - ứt
    ĩa - uệ
    ít - uyết
    ói - ủi
    ỗi - ụi
    út - uốt
    óng – úng

    V/ Gieo vần :

    1. Cước vận (vần chân) : Cước vận là các vần nằm ở cuối câu, nghĩa là các chữ ở cuối câu vần với nhau. Đa số các thể thơ đều là cước vận.

    2. Yêu vận (vần lưng) : Yêu vận là vần được gieo ở giữa câu, nghĩa là chữ cuối của câu trên vần với một chữ nằm ở giữa câu dưới, như thể thơ lục bát, song thất lục bát.

    3. Các kiểu gieo vần thông dụng :

    - Vần tiếp (liên vận) : chữ cuối của 2 câu liên tiếp vần với nhau và các cặp bằng trắc xen kẽ tiếp nhau. Ví dụ :

    Bé làm cô giáo
    Dạy chữ cho ba
    Đọc nào chữ a
    Ngoan cô cho kẹo
    Đang dạy nhõng nhẽo
    Đòi bế đi chơi
    Yêu cô bằng trời
    Muốn gì được nấy
    (TN)

    - Vần chéo (cách vận) : chữ cuối 2 câu cách nhau có vần với nhau. Trong một khổ 4 câu, chữ cuối câu 1 vần với câu 3 và chữ cuối câu 2 vần với câu 4. Ví dụ :

    Mưa ơi sao rơi mãi
    Mẹ vẫn chưa về mà
    Đường làng trơn bước ngại
    Lắc lẻo cầu khó qua
    (TN)

    Hoặc chỉ cần chữ cuối câu 2 và câu 4 vần với nhau. Ví dụ :

    Anh có hiểu vầng dương chưa tắt nắng
    Mây đã buồn tím ngắt cuối trời xa
    Lòng thổn thức bước chân sầu đơn lẻ
    Chờ đợi anh góc phố buổi chiều tà
    (TN)

    - Vần ôm : trong 1 khổ thơ 4 câu, chữ cuối câu 1 vần với chữ cuối câu 4 và chữ cuối câu 2 vần với chữ cuối câu 3.
    Ví dụ :

    Những ngày chưa có anh
    Tuổi hồn nhiên trong trắng
    Như trời mơ ươm nắng
    Lẫn trong ngàn mây xanh
    (AT)

    - Vần 3 tiếng : chữ cuối các câu 1, 2 và 4 của khổ thơ vần với nhau. Ví dụ :

    Hiền lành đứng đắn lại bô trai
    Giỏi chữ hay văn quả lắm tài
    Bút trải vần tiên cài ngõ mận
    Thơ lồng tiếng hạc giắt đường.
     
  2. Admin

    Admin Administrator Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    12/4/15
    Bài viết:
    41
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    VẦN
    [Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia]

    Vần (rhyme) là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ. Đây là một quy luật để nối các câu trong bài thơ với nhau. Thường vần được dùng để nối câu gieo vào chữ cuối cùng của câu thơ. Có hai loại vần:

    vần bình: những chữ không dấu hoặc dấu huyền — ba, bà
    vần trắc: những chữ có dấu hỏi, ngã, sắc, nặng — bả, bã, bá, bạ
    Chữ "đấy", "cấy" cùng phát ra một âm "ây" song đều thuộc trắc thanh. Những tiếng "dâu", "màu", "sầu" có âm "âu" và "au" và thuộc bình thanh.

    Vần thể còn được quan niệm là vần giàu hay nghèo:

    Vần giàu (hay còn gọi là Vần Chính): những chữ có cùng âm và thanh
    Thanh bằng: Phương, sương, cường, trường
    Thanh trắc: Thánh, cảnh, lãnh, ánh
    Vần nghèo (hay còn gọi là Vần Thông): đồng thanh nhưng với âm tương tự
    Thanh bằng: Minh, khanh, huỳnh, hoành
    Thanh trắc: Mến, lẽn, quyện, hển
    Ví dụ hai câu dùng Vần Chính:

    Lầu Tần chiều nhạt vẻ thu
    Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông

    Cưỡng vận
    Khi hai vần là Vần Thông với nhau mà thôi.
    Người lên ngựa kẻ chia bào
    Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san

    Lạc vận
    Khi hai vần không thuộc Vần Chính hay Vần Thông.
    Người về chiếc bóng năm canh
    Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
    Trong thơ Việt, có hai cách gieo vần

    Gieo vần ở giữa câu (Yêu Vận hay "vần lưng"): Chữ cuối của câu trên vần với một chữ nằm bên trong câu dưới như trong thể thơ lục bát, chữ cuối câu có sáu chữ vần với chữ thứ sáu của câu tám chữ sau đó. Chẳng hạn Nguyễn Du truyện Kiều:

    Người về chiếc bóng năm canh
    Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
    Vầng trăng ai xẻ làm đôi?
    Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

    Gieo vần ở cuối câu (Cước Vận hay "vần chân"): Các chữ ở cuối câu vần với nhau.

    Vần tiếp

    các cặp trắc bằng xen kẽ tiếp nhau. Chẳng hạn Xuân Diệu trong Tương Tư Chiều:

    Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm,
    Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em.
    Không gì buồn bằng những buổi chiều êm,
    Mà ánh sáng đều hòa cùng bóng tối.
    Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối;
    Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành;
    Mây theo chim về dãy núi xa xanh
    Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ.
    Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ.

    Vần chéo

    Trong thi đoạn bốn câu, chữ cuối câu thứ nhất vần với câu thứ ba và chữ cuối câu thứ hai vần với câu thứ tư. Chẳng hạn Anh Thơ trong bài Tiếng chim tu hú:

    Nắng hè đỏ hoa gạo
    Nước sông Thương trôi nhanh
    Trên đường đê bước rảo
    Gió nam giỡn lá cành

    Nhiều khi chỉ cần chữ cuối câu thứ hai vần với câu thứ tư mà thôi. Chẳng hạn Quang Dũng trong bài Đôi bờ:

    Xa quá rồi em người mỗi ngả
    Bên này đất nước nhớ thương nhau
    Em đi áo mỏng buông hờn tủi
    Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?

    Vần ôm

    Trong thi đoạn bốn câu, chữ cuối câu thứ nhất vần với câu thứ tư và chữ cuối câu hai vần với câu thứ ba. Vần trắc ôm vần bằng, hay ngược lại. Chẳng hạn Nguyên Sa trong Áo lụa Hà Đông:

    Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
    Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
    Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
    Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

    Vần ba tiếng

    Trong thi đoạn bốn câu, chữ cuối câu một, câu hai và câu thứ tư vần với nhau. Câu ba khác vần. Chẳng hạn Thâm Tâm trong Tống Biệt Hành.

    Đưa người ta không đưa qua sông
    Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
    Bóng chiều không thắm không vàng vọt
    Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

    Cách gieo vần dùng chữ cuối cùng của câu cũng xuất hiện trong các bài thơ của châu Âu, chẳng hạn như hai câu trích trong bài On His Being Arrived to the Age of Twenty-three của nhà thơ người Anh John Milton (tiếng Anh):

    That I to manhood am arrived so near,
    And inward ripeness doth much less appear,
    Hay tạm dịch là:

    Tuổi thành xuân đến quá nhanh
    Đã nào một chút trưởng thành trong tôi
    Ở đây âm "ia" (của near và appear) được dùng để làm vần nối hai câu thơ.
     
  3. Admin

    Admin Administrator Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    12/4/15
    Bài viết:
    41
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    ĐIỆU
    [Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia]

    Điệu (rhythm), hay còn gọi là nhạc điệu, tạo nên do âm thanh của từ được chọn và nhịp điệu ngắt câu. Nhạc trong thơ được tạo nên bởi ba yếu tố: vần, tiết tấu và từ. Thơ lục bát, ca dao là một thể loại giàu nhạc tính.

    Âm hưởng của vần:

    (a)- Vần bằng thường gây cảm giác nhẹ nhàng, mềm mại.
    Gió mơn man sợi nắng mành
    Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài
    Dương gian hé rạng hình hài
    Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi[7]

    (b) - Vần trắc thường gây cảm giác mạnh mẽ, động đậy, tỉnh thức.
    Gió mơn man sợi nắng mành
    Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài
    Dương gian hé rạng hình hài
    Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi

    Tiết tấu của câu:
    Tiết tấu là nói đến cái nhịp, cái điệu của câu thơ. dựa vào chỗ ngắt đoạn, tức chỗ chia câu thành từng vế, mỗi vế có nghĩa trọn vẹn. Đó là nhịp dài (--), khi ngâm người ta ngừng lại ngân nga lâu một chút. Ngoài ra, trong mỗi vế, khi ngâm tùy theo hứng, người ta cũng có thể ngừng lại ngân nga ngắn hơn ở những chỗ vế chia thành từng bộ phận, đó là nhịp ngắn (-).
    Dương gian (-) hé rạng (-) hình hài (--)
    Trời (-) se sẽ lạnh (-), đất ngai (--) ngái mùi(--)

    Nhịp trong thơ:
    tạo nên do sự phân định của câu và của từ, tương tự khi viết cho dấu phẩy, khi đọc ngưng hơi.

    Nhịp (4/4) - (2/2/2/2)
    Em ngồi cành trúc (--) em tựa cành mai (--)
    Đông đào (-) tây liễu (-) biết ai (-) bạn cùng (--)

    Nhịp (2/2/2) - (2/2/2/2)
    Trời mưa (-) ướt bụi (-) ướt bờ (-)
    Ướt cây (-) ướt lá (--) ai ngờ (-) ướt em (--)

    Nhịp (2/4) - (2/2/2/2)
    Yêu mình (--) chẳng lấy được mình (--)
    Tựa mai (-) mai ngã (--) tựa đình (-) đình xiêu (--)

    Nhịp (2/4) - (4/4)
    Đố ai (-) quét sạch lá rừng (--)
    Để ta khuyên gió (--) gió đừng rung cây (--)

    Nhịp (2/4) - (2/4/2)
    Hỡi cô (-) tát nước bên đàng (--)
    Sao cô (-) múc ánh trăng vàng (--) đổ đi (--)

    Nhịp (4/2) - (2/4/2)
    Trách người quân tử (-) bạc tình (--)
    Chơi hoa (--) rồi lại bẻ cành (--) bán rao (--)

    Nhịp (3/2/2) - (4/3/2)
    Đạo vợ chồng (-) thăm thẳm (-) giếng sâu (--)
    Ngày sau cũng gặp (--) mất đi đâu (-) mà phiền (--)

    Nhạc tính của từ:
    Theo ngữ học, mỗi từ đơn của ta thường là một âm tiết, khi phát lên nhẹ hay mạnh, trong hay đục là tùy theo vị trí phát âm của nó trong khẩu cung (kể từ môi đến cuống họng, kể cả độ mở của miệng). Một từ được phát lên tại vị trí nào trong khẩu cung là phải chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố tạo nên nó: nguyên âm, phụ âm đầu, phụ âm cuối và thanh. Vì thế từ nào có:
    nguyên âm bổng như: i, ê, e
    phụ âm vang như: m, n, nh, ng

    thanh bổng như: không dấu, dấu sắc, dấu hỏi, thì từ được phát ra, âm sẽ cao, trong và nhẹ.
    Ngược lại, từ nào gặp phải:
    nguyên âm trầm: u, ô, o,
    phụ âm tắc: p, t, ch, c,

    và thanh trầm: dấu huyền, dấu ngã, dấu nặng thì từ phát ra âm sẽ đục và nặng.
    Sự trong đục của các từ ngắt nhịp trong câu, và nhất là của các từ dùng làm vần có ảnh hưởng nhiều nhất đến nhạc tính của thơ.
    Hôm qua (-) tát nước đầu đình (--)
    Bỏ quên cái áo (-) Trên cành hoa sen (--)
    Em được (--) thì cho anh xin (--)
    Hay là (-) em để làm tin (-) trong nhà. (--)

    Những từ ngắt nhịp và những từ dùng làm vần trong 4 câu thơ này hầu hết đều có những yếu tố tạo nên âm vang và trong, nên nhạc thơ nghe vui, diễn tả được tình cảm trong sáng, yêu đời của chàng trai ở đây.
    Nụ tầm xuân (-) nở ra xanh biếc. (--)
    Em đã có chồng (--) anh tiếc (-) lắm thay. (--)

    Âm "iếc" trong 2 từ "biếc" và "tiếc" lấy làm vần ở đây có 2 nguyên âm bổng (iê) vút cao với thanh sắc cũng thuộc loại thanh bổng nhưng đã bị đứt hơi, tắc nghẽn bởi phụ âm cuối ‘c’, được mệnh danh là âm tắc, nên khi đọc lên nghe như tiếng nấc, nhạc thơ vì vậy chậm lại, nghe nghẹn ngào, tức tưởi. Như thế, vần "iếc" ở đây gieo rất đắt, đã cực tả được nỗi tiếc nuối đứt ruột của chàng trai khi trở lại chốn cũ, gặp lại người xưa, tình mình thì đang nồng, người mình yêu lại quá đẹp, nhưng than ôi muộn mất rồi, vì nay nàng đã là gái có chồng!

    Yêu ai tha thiết, thiết tha
    Áo em hai vạt trải ra chàng ngồi.

    Đôi khi để đảm bảo cho nhạc tính của câu ca dao (âm luật, âm vận), những âm tiết của từ kép có thể đảo ngược vị trí. Như câu ca dao trên hai âm tiết "tha thiết" được đảo thành "thiết tha" vì thể lục bát chỉ gieo vần bằng (tha, ra).

    Thơ hoặc ca dao hay sử dụng từ láy, nhờ sự lập lại toàn thể hay một số yếu tố của từ gốc mà từ láy khi phát âm, hai điểm phát âm sẽ trùng nhau (từ láy hoàn toàn) hay tiến sát gần nhau (từ láy không hoàn toàn) tạo thành một chuỗi hòa âm, giúp cho nhạc điệu của thơ vừa phong phú, vừa tăng uyển chuyển, nhịp nhàng.
     
    THƠ THƠ thích bài này.

Chia sẻ trang này