TẢN MẠN BÊN LỀ

Thảo luận trong 'BÊN LỀ' bắt đầu bởi Thiết Dương, 9/5/16.

  1. Thiết Dương

    Thiết Dương Administrator Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    6/4/15
    Bài viết:
    898
    Đã được thích:
    150
    Điểm thành tích:
    43
    Giới tính:
    Nam
    LƯỠNG ĐẦU XÀ NGHỊCH THIỆT:

    LẠC CUNG
    (Lưỡng đầu xà nghịch thiệt)

    Lời trong khúc oán vọng long trời
    Bơi khiển cung tình lạc biển khơi
    Trận phát sai căn bùn trát phận
    Thời đeo nhầm tuyến lệ theo đời
    Gót xa người biệt nhìn ga xót
    Nơi vắng ta chờ dỗi nắng vơi
    Thảo áng thơ sầu năm tháng ảo
    Mười cơ lỡ chục chẳng mơ cười.

    Thiet Duong _07/5/2016
    ____________________

    Khi có thời gian, Thiet Duong sẽ chia sẻ một số kỹ năng viết các loại biến thể của thơ Đường luật. Hôm nay TD xin phép nói về thơ "Lưỡng đầu xà nghịch thiệt".

    Đây là một kiểu biến thể khó, vì ngoài việc lái từ, còn phải chuẩn đối ở 2 cặp thực và luận. Tuy khó, nhưng là kiểu thơ hay, đặc biệt với những bậc cao nhân, thường lợi dụng lái từ để chơi chữ, tạo ẩn ý phê phán hiện thực xã hội.

    LƯỠNG ĐẦU XÀ NGHỊCH THIỆT:

    Là thể thơ trong đó hai chữ cuối câu là cách nói lái của hai chữ đầu câu hay ngược lại.

    TRONG TIẾNG VIỆT, CÓ MỘT SỐ CÁCH LÁI TỪ NHƯ SAU:

    - Cách 1: Đổi âm sau, giữ chữ đầu và thanh. Ví dụ: mèo cái → mài kéo, trời cho → trò chơi...

    - Cách 2: Đổi toàn bộ, trước ra sau, nhưng giữ thanh. Ví dụ: đầu tiên → tiền đâu, từ đâu → đầu tư,...

    - Cách 3: Đổi dấu thanh điệu (kiểu lái Bắc). Ví dụ: Thụy Điển → thủy điện, bí mật → bị mất,...

    - Cách 4: Đổi phụ âm đầu. Ví dụ: đá mau -> má đau, giải pháp → phải giáp...

    - Cách 5: Đổi âm sau và thanh sau, giữ phụ âm đầu. Ví dụ: bí mật → bật mí, một cái → mái cột, mèo cái → mái kèo, trâu đực → trực đâu, mắc cười → mười cắc, tánh mạng → táng mạnh...

    Trong một bài, nên đồng nhất một cách lái từ, đọc sẽ hay hơn. Tuy nhiên, cũng có người thích viết nhiều cách lái chữ trong 1 bài cho đa dạng, nhưng với cách này, nên dùng cùng kiểu lái trong từng cặp.

    Thể thơ này, buộc phải chấp nhận lỗi phong yêu và tiểu vận. Các lỗi nhỏ khác (bàng nữu, chánh nữu, điệp âm, hạc tất) cũng chấp nhận được, tuy nhiên cũng nên cố gắng hạn chế. Thiet Duong hay dùng theo cách lái từ THỨ 5 nêu trên, tránh được phong yêu. Nhưng tiểu vận không thể tránh.

    MỘT SỐ LỖI LÁI TỪ NGƯỜI VIẾT HAY BỊ:

    Biển cạn- bạn kiểng
    Nâu thuốc- nuốt thâu
    Chóng biết- chiếc bóng
    Đàn xưa- đưa xàng
    Giáo án- dán áo
    ...

    Chúc các bạn vui thơ, dạt dào thi hứng!
    ____________________

    [​IMG]
     
  2. Thiết Dương

    Thiết Dương Administrator Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    6/4/15
    Bài viết:
    898
    Đã được thích:
    150
    Điểm thành tích:
    43
    Giới tính:
    Nam
    THƠ THUẬN NGHỊCH ĐỘC

    Bài này TD sẽ chia sẻ một chút về kỹ thuật viết thể thơ thuận nghịch độc.

    Từ hàng trăm năm nay, rất nhiều người yêu thích lối viết thơ thất ngôn bát cú đường luật thuận nghịch độc (đọc xuôi đọc ngược). Theo TD thì đây là một thể thơ không khó viết, nhưng khó hay. Để viết được thể thơ này, người viết cần nắm được một số đặc điểm kỹ thuật, tóm tắt như sau:

    I/ VỀ NIÊM LUẬT:
    Hoàn toàn sử dụng bảng luật cơ bản của thơ TNBC, dùng luật bất luận (nhất tam ngũ bất luận).

    I.1/ LUẬT BẰNG VẦN BẰNG
    Thơ thuận nghịch viết theo luật bằng vần bằng là dễ viết hơn luật trắc, vì theo bảng luật dưới đây, chỉ dùng bất luận, dễ dàng tránh được tất cả các lỗi bệnh khác, nên được nhiều người sử dụng.

    B B T T T B B
    T T B B T T B
    B T T B B T T
    T B B T T B B
    B B T T B B T
    T T B B T T B
    B T T B B T T
    B B T T T B B

    Ví dụ:

    TIẾNG XUÂN
    (Thuận nghịch độc)

    Mai vàng sắc điểm phố vào xuân
    Suối nhạc hòa ca tiếng dịu ngần
    Cài lụa tóc mây tha thướt xỏa
    Vọng đàn âm biển dặt dìu ngân
    Ai hò hẹn khúc trao tình mộng
    Cảnh xuyến xao thơ gửi thế trần
    Dài ngắn sợi tơ khoe thắm liễu
    Khai mùa hội mới nắng đầy sân

    Sân đầy nắng mới hội mùa khai
    Liễu thắm khoe tơ sợi ngắn dài
    Trần thế gửi thơ xao xuyến cảnh
    Mộng tình trao khúc hẹn hò ai
    Ngân dìu dặt biển âm đàn vọng
    Xỏa thướt tha mây tóc lụa cài
    Ngần dịu tiếng ca hòa nhạc suối
    Xuân vào phố điểm sắc vàng mai

    Thiet Duong _17/5/2016
    __________

    I.2/ LUẬT TRẮC VẦN BẰNG
    Khó viết hơn luật bằng một chút, vì câu đầu và câu cuối không thể tránh lỗi bệnh:

    B T B B T T B
    T B B T T B B
    B B T T B B T
    T T B B T T B
    B T T B B T T
    T B B T T B B
    B B T T B B T
    B T B B T T B
    -> Ta thấy, theo bảng luật trên thì câu 1 và câu 8 (2 câu này niêm luật như nhau) đã bị lỗi khổ độc ở 1 chiều đọc, VD: Xa cách xuân buồn vọng lứa đôi -> Đôi lứa VỌNG buồn xuân cách xa => từ "VỌNG" bị lỗi khổ độc ở chiều đọc ngược.

    - Có thể tránh được lỗi khổ độc này, nếu câu này viết theo luật sau:
    B T B B B T B, Ví dụ: Đôi lứa sầu buồn xuân cách xa -> Xa cách xuân buồn sầu lứa đôi => Cách viết này, tuy tránh được lỗi khổ độc, nhưng lại mất cân bằng về BẰNG TRẮC trong câu. 7 từ chỉ có 2 từ trắc (tỷ lệ bằng trắc trong câu phải là 3/4 hoặc 4/3). Như vậy, phạm lỗi bàng thanh.

    - Tùy theo người viết có thể chọn cách viết nào, chấp nhận lỗi nào.

    - Với TD, sẽ chọn chấp nhận lỗi khổ độc ở 1 chiều. Có người cho rằng, lỗi khổ độc là lỗi nặng, buộc phải tránh => Đúng là như vậy, Nhưng trong trường hợp này, tuy bị lỗi khổ độc (còn gọi là LỖI KHÓ ĐỌC), nhưng câu thơ vẫn dễ đọc hơn là chấp nhận lỗi bàng thanh => Do từ thứ 3 phạm khổ độc, nhưng từ thứ nhất trong câu đã dùng bất luận, chuyển từ trắc sang bằng: câu thơ vẫn rất êm, dễ đọc -> lỗi khổ độc xem như đã được hóa giải.

    - Nhưng phải tuyệt đối tránh để cả 2 chiều đều phạm lỗi khổ độc (nhiều người hay phạm) -> khiến cho câu thơ thực sự khó đọc, ví dụ: Đôi lứa VỌNG buồn MỘNG cách xa -> Xa cách mộng buồn VỌNG lứa đôi. => Cả 2 chiều đọc đều có từ bị khổ độc.

    Ví dụ:

    LỠ MỘT CUNG ĐÀN
    (Thuận nghịch độc)

    Xa cách xuân buồn vọng lứa đôi
    Nhớ nhung người mãi biệt ly rồi
    Ga ngơ ngẩn dỗi tầu rời bánh
    Cảnh hắt hiu sầu nhạn mất ngôi
    Thà chẳng biết thơ hờn nhạc hỡi
    Để hoài ngân khúc dối đời thôi
    Và em trả mộng bài dang dở
    Ca tiếng vụng đàn cung lỡ ôi.

    Ôi lỡ cung đàn vụng tiếng ca
    Dở dang bài mộng trả em và
    Thôi đời dối khúc ngân hoài để
    Hỡi nhạc hờn thơ biết chẳng thà
    Ngôi mất nhạn sầu hiu hắt cảnh
    Bánh dời tầu dỗi ngẩn ngơ ga
    Rồi ly biệt mãi người nhung nhớ
    Đôi lứa vọng buồn xuân cách xa

    Thiet Duong _17/5/2016
    __________

    II/ TỪ VÀ VỊ TRÍ CỦA TỪ TRONG CÂU:
    Ta cần lưu ý một số cách sử dụng từ trong 1 câu như sau:
    - Từ giữa câu: Phải là từ sao cho, phù hợp, hiệp ý với cả 2 vế (3 từ đầu câu và 3 từ cuối câu). Ví dụ câu:
    Sân đầy nắng MỚI hội mùa khai -> Đọc từ đầu câu: "Sân đầy nắng MỚI ...",. Hoặc đọc từ cuối câu lại: "Khai mùa hội MỚI ...", đều tròn ý.

    - 3 từ đầu câu và 3 từ cuối câu đều phải là các cụm từ có thể đọc xuôi đọc ngược mà vẫn êm thuận, tròn ý: sân đầy nắng -> nắng đầy sân...

    - VỊ trí từ láy và từ kép trong câu:
    + Chỉ có thể đặt ở vị trí 3 từ đầu câu hoặc 3 từ cuối câu, ví dụ: Xỏa THƯỚT THA mây tóc lụa cài -> Cài lụa tóc mây THA THƯỚT xỏa.
    + Nếu đặt giữa câu thì 1 chiều đọc sẽ bị lỗi nhịp, ví dụ: Suối âm DÌU DẶT vọng êm ngàn -> Ngàn êm vọng /DẶT DÌU /âm suối => Chiều đọc thuận vẫn đúng nhịp, nhưng chiều đọc ngược đã bị lỗi nhịp.
    -> Trong nhiều trường hợp, từ ghép đẳng lập có thể đặt giữa câu, nhưng từ láy thì không thể.

    Để một câu thơ có thể đọc xuôi đọc ngược sao cho cả 2 chiều đều êm thuận, tròn ý: Ta cần chọn những cặp từ, cụm từ có thể đọc xuôi, đọc ngược.

    III/ CÁCH SỬ DỤNG TỪ TRONG CÂU:

    1/ Từ đẳng lập: Là từ ghép mà từng từ khi đứng riêng vẫn đủ ý, nên đều có thể đọc xuôi, đọc ngược. Ta nên lợi dụng yếu tố này, ví dụ: BỜ BẾN, GIÓ MÂY, THÀNH THỊ, HỜN TỦI, NUÓC NON, MƠ MỘNG, CHIẾU CHĂN...

    2/ Từ kép: cả 2 từ khi đứng chung mới đủ ý, nên ta phải chọn các từ có thể đọc êm thuận cả 2 chiều, ví dụ: NGỜ ĐÂU, TUỔI TRẺ, KHÁC NÀO, ĐƯA THOI...

    3/ Từ láy: Chắc khỏi phải bàn, vai trò của từ láy trong sáng tác thơ ca. Từ láy là một đặc sản mà chỉ duy nhất có trong tiếng Việt ta. Từ Chinh phụ ngâm, truyện Kiều... và các thi nhân nổi tiếng đều có những biệt tài, những phong cách riêng dụng từ láy vào tác phẩm.
    Vì đặc điểm của từ láy: khi đứng riêng, 1 trong 2 từ, hoặc cả 2 từ sẽ vô nghĩa, vì vậy ta phải chọn các từ mà cả 2 chiều đọc đều có trong từ điển, hoặc đều êm thuận, được người Việt ta dùng trong câu nói hàng ngày, ví dụ: THA THIẾT, ĐAU ĐỚN, CHAN CHỨA, DẠT DÀO, HỮNG HỜ, THẨN THƠ, NGÀO NGẠT... và các từ láy toàn phần như: XA XA, XINH XINH, CHANG CHANG, ĐĂM ĐĂM, CĂM CĂM, THIU THIU, PHAU PHAU...
    Không nên dùng những từ láy khi đọc ngược lại không êm thuận, không có nghĩa như: héo hắt, đượm đà, ngay ngắn, hay ho, say sưa...
    (Một số từ láy, chiều đọc nghịch tuy chưa cập nhật vào các bộ từ điển, nhưng đọc êm thuận, đc dân ta sử dụng hàng ngày, thậm chí đã có trong các tác phẩm nổi tiếng, như: XAO XUYẾN, CÔI CÚT, SE SẮT... ) ta có thể sử dụng được.

    */ Ví dụ về các cụm từ có thể đọc xuôi ngược: NẮNG CHANG CHANG, TRẮNG PHAU PHAU, CHÀNG BÊN THIẾP, ÁO CÀI HOA, BẦU RƯỢU NẮM NEM...

    */ Cũng cần hết sức để ý, vì tiếng Việt rất phong phú, đa dạng. Nhiều từ khi đọc ngược lại sẽ cho ý nghĩa khác hẳn, có khi là phản nghĩa. Ví dụ: HỘ SANH -> SANH HỘ, THÂN THẾ-> THẾ THÂN, BỆ HẠ-> HẠ BỆ, SĨ TỬ, TỬ SĨ ...

    Chúc các bạn vui thơ./.

    Thiet Duong _17/5/2016
    ____________________

    [​IMG]
     

Chia sẻ trang này