LÝ THUYẾT THAM KHẢO

Thảo luận trong 'Thông tin' bắt đầu bởi Admin, 13/4/15.

  1. Admin

    Admin Administrator Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    12/4/15
    Bài viết:
    41
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    ĐƯỜNG LUẬT TNBC LUẬT BẰNG, VẦN BẰNG

    B - B - T - T - T - B - B
    T - T - B - B - T - T - B
    T - T - B - B - B - T - T
    B - B - T - T - T - B - B
    B - B - T - T - B - B - T
    T - T - B - B - T - T- B
    T - T - B - B - B - T - T
    B - B - T - T - T - B - B

    ĐƯỜNG LUẬT TNBC LUẬT TRẮC, VẦN BẰNG

    T - T - B - B - T - T - B
    B - B - T - T - T - B - B
    B - B - T - T - B - B - T
    T - T - B - B - T - T - B
    T - T - B - B - B - T - T
    B - B - T - T - T - B - B
    B - B - T - T - B - B - T
    T - T - B - B - T - T – B

    Liên 1: (câu 1, 2); liên 2 (câu 3, 4); liên 3 (câu 5, 6); liên 4 (câu 7, 8).
    Lỗi bệnh sẽ được tính trong từng câu, hoặc từng liên.

    08 BỆNH – CẦN TRÁNH:

    1- Thất niêm :
    Trong bài thơ Đường luật
    • Câu 1 niêm với câu 8
    • Câu 2 niêm với câu 3
    • Câu 4 niêm với câu 5
    • câu 6 niêm với câu 7

    nghĩa là các cặp câu nầy có cùng âm luật bằng trắc. Nếu khác âm luật bằng trắc thì bài thơ gọi là bị thất niêm

    2- Thất luật :
    Trong một câu, theo bảng luật, những từ có âm bằng mà làm ra trắc hoặc có âm trắc mà làm ra bằng.

    Tuy nhiên, chắc ai cũng nghe câu: NHẤT TAM NGŨ BẤT LUẬN, NHỊ TỨ LỤC PHÂN MINH
    Là các từ thứ 1, 3, 5 trong câu có thể không cần tuân theo bảng luật trên (nhưng không được rơi vào trường hợp lỗi khổ độc), thì không phạm lỗi thất luật. Chỉ gọi là luật bất luận> Luật bất luận làm cho câu thơ bớt sự cứng nhắc, mềm mại hơn.
    Còn các từ thứ 2, 4, 6 thì tuyệt đối phải tuân theo bảng luật trên.

    3- Thất đối:
    Đối chiếm địa vị quan trọng trong thơ ĐL. Bỏ đối đi thì không còn được gọi là thơ ĐL nữa.
    Cặp thực (câu 3, 4): 2 câu này phải đối nhau
    Cặp luận (câu 5, 6): 2 câu này phải đối nhau.

    2 cặp đối có thể coi là linh hồn của bài thơ. Ngoài việc không được thất đối, để viết được một cặp đối hay quả không hề dễ. Qua 2 cặp đối có thể đánh giá đẳng cấp của tác giả.

    4- Thất vận (lạc vận, cưỡng vận):
    Đang theo vần này mà gieo sang vần khác, như vần trên là trời mà vần dưới là mây thì gọi là lạc vận. VD:
    Nhạt nhẽo đời em tuổi vắng chồng
    Xuân thùy qúa vội phũ phàng chưa
    Các từ vần là CHỒNG- CHƯA không thông vần nhau = lạc vận.

    5. Bình đầu
    Bài thơ mà có từ 4 câu liên tiếp bắt đầu bằng những tiếng cùng một từ loại, cùng một cấu trúc câu thì phạm lỗi bình đầu, ngoại trừ trường hợp cố tình làm có mục đích rõ rệt.

    6. Thượng vỹ
    Trong bài thơ ĐL TNBC nếu chữ thứ 5, 6, 7 của từ 4 câu liên tiếp cùng từ loại và cấu trúc thì bài thơ phạm lỗi thượng vỹ.

    7. Phạm đề/Mạ đề
    Trong hai cặp thực và luận không được dùng chữ của đầu bài, nếu có chữ nào của đề lọt vào thì bị lỗi phạm đề hay mạ đề.

    8. Khổ độc
    - Trong một bài thất ngôn, chữ thứ ba các câu có từ vần cuối (câu 1, 2, 4, 6, 8), và chữ thứ năm các câu không vần cuối (câu 3, 5, 7) đáng là từ bằng mà đổi ra trắc, thì gọi là khổ độc.

    12 LỖI – NÊN TRÁNH:

    1- Trùng vận :
    Thơ ĐL chỉ dùng đơn vận, nếu cùng một chữ vần được dùng lặp lại ở hai câu khác nhau thì gọi là trùng vận, bài thơ sẽ hỏng.
    Tuy nhiên trùng âm mà khác nghĩa thì chấp nhận nhưng đặt gần nhau sẽ không hay.
    VD:
    Vẳng tiếng ve ngân báo hiệu hè
    Bâng khuâng cánh phượng rớt bên hè

    Tuy 2 từ vận trùng nhau “HÈ”, nhưng là đồng âm, khác nghĩa (mùa hè, và hè nhà). Nên không phạm lỗi trùng từ và trùng vận, nhưng tránh được thì hay hơn.

    2- Trùng từ
    Một từ được dùng 2 hoặc 3 lần trong bài thơ thì gọi là trùng từ hoặc điệp từ. Nhưng nếu trùng từ, mà khác nghĩa (như VD trên) thì không tính lỗi.

    3- Trùng ý
    Từ ý đã dùng rồi mà còn dùng nữa thì gọi là trùng ý. Nếu rơi vào cặp thực hay cặp luận thì gọi là hiệp chưởng hay còn gọi là bổ nứa. VD: nước mắt – lệ; Trăng- nguyệt… nếu dùng cùng nghĩa thì là lỗi dùng từ trùng ý.

    4- Điệp điệu
    Thường gặp ở giữa bài NHIỀU CÂU ngắt nhịp như nhau bởi đi cùng cấu trúc: VD 4 câu liên tiếp có từ láy đặt cùng vị trí giữa câu = lỗi điệp điệu, làm cho cả 4 câu thơ có cùng cách đọc => không hay. Như 4 câu dưới đây:
    Người đang lặng lẽ sầu trên mắt
    Kẻ vẫn âm thầm mộng dưới hoa
    Những độ mơ màng nâng phím để…
    Từng đêm thổn thức nhớ em và…

    5 Điệp thanh
    Trong câu có 3 từ đi liền nhau cùng thanh dấu, hoặc trong câu có 4 từ cùng thanh dấu là lỗi điệp thanh

    6- Điệp âm
    Là trong câu có 03 từ thông vần, hoặc trong liên có 04 từ thông vần.

    7- Đại vận
    Nếu chữ thứ 4 trong câu cũng vần với chữ cuối câu thì phạm lỗi đại vận : VD
    “Lá rụng bên thềm gợi nhớ thêm”: THỀM- THÊM thông vần ÊM = lỗi đại vận.

    8- Tiểu vận
    Nếu chữ thứ 2 trong câu vần với chữ thứ 6 hoặc thứ 7 thì phạm lỗi tiểu vận.
    “Buổi đó anh về mưa ngập ngõ” -> ĐÓ- NGÕ

    9- Phong yêu
    Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 2 trong cùng câu thì gọi là lỗi phong yêu.
    “Buổi đón em về mưa ngập lối” -> ĐÓN – LỐI cùng thanh dấu.

    10- Hạc tất
    Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 4 trong cùng câu thì gọi là lỗi hạc tất.
    “Lá rụng đầy sân gợi nhớ thêm” -> SÂN – THÊM cùng thanh dấu.

    11- Chánh nữu
    Trong một câu có từ 03 chữ cùng phụ âm đầu (hoặc bắt đầu bằng nguyên âm, không có phụ âm đầu) thì phạm lỗi chánh nữu.
    “Thả bóng bên thềm để nhớ thêm” -> có 3 từ cùng phụ âm đầu TH: THẢ, THỀM, THÊM

    12 -Bàng nữu
    Trong liên có từ 04 chữ cùng phụ âm đầu hoặc bắt đầu bằng nguyên âm thì phạm lỗi bàng nữu.
    Những độ mơ màng nâng phím để…
    Từng đêm thổn thức đợi em và…
    4 từ trong liên cùng phụ âm Đ: ĐỘ, ĐỂ, ĐÊM, ĐỢI

    Tóm lại:
    Khi làm xong bài TNBC, cần để ý:
    - Xem từ thứ 2 và 4 trong câu có cùng thanh dấu với từ thứ 7 không (lỗi phong yêu và hạc tất)
    - Xem từ thứ 2 có thông vần với từ thứ 6, hoặc 7 không (lỗi tiểu vận)
    - Xem từ thứ 4 có thông vần với từ thứ 7 không (lỗi đại vận)
    - Kiểm tra toàn bài xem có bị lỗi trùng từ, trùng ý…

    Nếu ta tìm hiểu sâu hơn về bản chất của từng lỗi, bệnh, sẽ dễ dàng hơn trong việc sáng tác:
    Lỗi bình đầu, thượng vĩ, điệp điệu khiến cho bài thơ đọc bị nhàm, do cùng cách đọc, cùng cấu trúc.
    Các lỗi khác làm cho bài thơ thiếu nhạc điệu, đọc kém hay.

    Nhưng trong sáng tác, tác giả có thể tạo nhạc điệu bằng cách khác, mà không nhất thiết phải theo tuyệt đối các bảng luật trên. (Điều này, các thi nhân danh tiếng thường làm). Còn khi mới bắt đầu, thì nên tuân theo bảng luật, và tránh các lỗi bệnh, bài thơ sẽ hay hơn.

    Chúc các anh chị và các bạn vui thơ, nhiều thi hứng sáng tác.
     
  2. Admin

    Admin Administrator Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    12/4/15
    Bài viết:
    41
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    BÀN VỀ TỪ HÁN VIỆT TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

    Từ hán Việt sử dụng trong thơ ĐL là một đề tài đã được bàn luận nhiều, nhưng hầu như không thống nhất rõ ràng, mà mỗi người đều có quan điểm sử dụng khác nhau. Chủ yếu là góc độ thuần Việt hóa. Việc nắm bắt tốt về từ Hán Việt, từ Thuần việt hóa và từ thuần Việt ... sẽ giúp chúng ta sử dụng trong các cặp đối cho hay mà không bị thất đối.

    VỀ ĐỊNH NGHĨA:

    + Từ Hán Việt: là từ vựng sử dụng trong tiếng Việt có gốc từ tiếng Trung Quốc nhưng đọc theo âm Việt. Ngày nay được ghi bằng ký tự Latinh.

    + Từ Thuần Việt: là cốt lõi, cái gốc của từ vựng tiếng Việt. Chữ "thuần" trong "từ thuần Việt" có nghĩa là bản ngữ (ngôn ngữ bản địa) hay thuần chủng không pha tạp.

    + Về mặt nguồn gốc, cơ sở hình thành của lớp từ thuần Việt là các từ gốc Nam phương, bao gồm cả Nam Á và Tày Thái. Những kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy rằng nhiều bộ phận, nhiều nhóm của lớp từ thuần Việt có những tương ứng, những quan hệ hết sức phức tạp với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ trong vùng - miền.
    Ví dụ:
    Tương ứng Việt-Mường: vợ, chồng, ăn, uống, cười, bơi, nằm, khát, trốn, gáy, mỏ, mâm, rá, chum, nồi, vại, váy, cơm, cây, củ, rạ, mây, caugà, trứng...

    Tương ứng Việt – Tày Thái: đường, rẫy, bắt, bóc, buộc, ngắt, gọt, đẵn, bánh, vắng, mo, ngọn, mọn, méo, vải, mưa, đồng, móc, nụ, gà, chuột, đâm...

    Tương ứng với các ngôn ngữ nhóm Việt Mường đồng thời với nhóm Bru-Vân Kiều: trời, trăng, đêm, bụng, ruột, kéo, bốc, ngáy, khạc, củi, hột, rắn, khô...

    Tương ứng với nhóm ngôn ngữ Mon-Khmer ở Tây Nguyên Việt Nam: trời, mây, mưa, sấm, sét, bàn chân, đầu gối, da, thịt, mỡ, mày, nó, nuốt, cắn, nói, kêu, còi, mặc, nhắm, bếp, chổi, đọi...

    Tương ứng với nhóm Việt-Mường và các ngôn ngữ Mon-Khmer khác: sao, gió, sông, đất, đá, người, tóc, mặt, mắt, mũi, răng, lưỡi, cổ, lưng, tay, chân, máu, xương, cằm, đít, con, cháu...

    Tương ứng với nhóm Việt Mường và Tày Thái: bão, bể, bát, dao, gạo, ngà voi, than, phân, cày, đen, gạo, giặt...

    Tương ứng Việt – Indonesia: đất, trâu, sông, cái, cây, núi, đồng, nghe, đèn, đêm, trắng, tuổi, ăn, cướp, bướm, sáng, rất, nấu, này/ni, là, rằng, ngày...

    + Từ thuần Việt hóa: Trong quá trình phát triển hội nhập, và trong quá trình hoàn thiện ngôn ngữ giao tiếp, các từ có nguồn gốc là Hán, Ấn, Âu… nhưng được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, đã trở thành quen thuộc, ta coi như từ thuần Việt hóa. (Hiện nay, ở một số lớp dạy thơ đường luật tự phát, một số giáo viên hướng dẫn vẫn đang rất khắt khe, chưa chiịu công nhận các từ tuy có gốc Hán, nhưng đã có trong từ điển tiếng Việt, là từ thuần Việt hóa. Như vậy đã làm hạn chế đi kho từ vựng rất hay, đã được mọi người sử dụng thường xuyên). -> Ai dám nói rằng: Từ có trong từ điển tiếng Việt không phải là từ Việt? (chẳng qua là chúng có nguồn gốc khác nhau mà thôi: hoặc là từ thuần Việt, hoặc là được thuần Việt hóa từ các nguồn khác)

    + Như vậy, các từ có trong từ điển tiếng Việt, ta coi là từ thuần Việt, và chỉ sử dụng nghĩa của từ đúng theo từ điển. Cũng là từ đó, nhưng nếu sử dụng nghĩa khác thì phải ghi chú, và lúc này không còn là từ thuần Việt nữa.

    VD: từ ÁI: theo từ điển Hán Việt thì có rất nhiều nghĩa, nhưng trong từ điển tiếng Việt, có nghĩa là YÊU THƯƠNG. Vì vậy, nếu sử dụng nghĩa này thì coi là từ thuần Việt hóa, còn nếu sử dụng nghĩa khác sẽ được coi là từ Hán Việt),

    Mong các anh chị và các bạn trao đổi thêm để cùng áp dụng nhé !
     
  3. Admin

    Admin Administrator Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    12/4/15
    Bài viết:
    41
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    VẦN TRONG THƠ

    NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN

    1) Thanh BẰNG:
    Thanh BẰNG là những tiếng KHÔNG DẤU, và những tiếng có DẤU HUYỀN, thí dụ như hai chữ "THƠ" và "TÌNH", cả hai chữ này đều là tiếng BẰNG !
    Tiếng BẰNG là những tiếng có giọng ÊM dịu, có thể đọc kéo dài ra được.

    *Phân loại : Tiếng BẰNG có HAI LOẠI: THƯỢNG BÌNH THANH, và HẠ BÌNH THANH.
    Nói cách khác, Thượng Bình Thanh là tiếng BỔNG, Hạ Bình Thanh là những tiếng CHÌM hay TRẦM.

    Nhất Lang dùng hai chữ thí dụ trên để nói tiếp:
    -"THƠ" là tiếng KHÔNG CÓ DẤU, ta gọi là tiếng BỔNG!
    -TÌNH là tiếng CÓ DẤU HUYỀN, ta gọi là tiếng CHÌM hay TRẦM!
    Tiếng Bổng và tiếng Trầm chan hòa với nhau tạo ra âm điệu du dương, làm bài thơ hay hơn. Nếu ta chỉ dùng 1 loại tiếng trong một câu thơ thì âm điệu sẽ rất ngang và trúc trắc.

    2) Thanh TRẮC :
    Bên cạnh những tiếng BẰNG, chúng ta còn cần phải làm quen với những tiếng TRẮC. Tiếng TRẮC là những tiếng có giọng đọc ngắn, không kéo dài ra như tiếng BẰNG . Những tiếng có chữ C, CH, P, T đứng ở cuối tiếng và những tiếng có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều là những tiếng TRẮC.

    Cũng như tiếng BẰNG, TRẮC có tiếng TRẦM và BỔNG - tiếng TRẦM của tiếng TRẮC là những tiếng có dấu HỎI và NẶNG, tiếng BỔNG của tiếng TRẮC là những tiếng có dấu SẮC và NGÃ.
    Hai chữ "Lãng" và "Mạn" đều là tiếng TRẮC, "Lãng" là tiếng BỔNG, "Mạn" là tiếng Trầm hay Chìm.

    3) KẾT HỢP BẰNG TRẮC :
    Mỗi câu thơ đều nên có tiếng BẰNG và tiếng TRẮC, và vì hai loại tiếng khác nhau, nên ta phải xếp sao cho tiếng nọ chế tiếng kia, thì khi đọc sẽ tìm thấy một âm điệu du dương. Nói tóm lại, mỗi câu thơ nên được xếp sao cho mỗi loại tiếng chan hòa với nhau, có nghĩa là cố giữ sao cho câu thơ 8 chữ phải có ít nhất 3 tiếng BẰNG, 5 tiếng TRẮC hoặc ngược lại... nếu được 4 tiếng này, 4 tiếng kia thì càng tốt; câu thơ 8 chữ mà chỉ có 1 tiếng BẰNG và 7 tiếng TRẮC, thì câu thơ ấy thiệt là chướng tai ghê lắm.

    Cho dù câu thơ có mấy chữ đi nữa, BẰNG và TRẮC nên được cân đối với nhau, tuy nhiên không đòi hỏi phải bằng số !

    *Điều quan trọng :
    Văn thơ khác hơn âm nhạc ở chỗ chữ BẰNG không thể nào hợp VẬN cùng chữ TRẮC. Nghĩa là chữ TÌNH có thể vần cùng chữ MÌNH, nhưng không thể vần cùng chữ TÍNH.
    Luật định : BẰNG vần với BẰNG, TRẮC vần với TRẮC.

    TÓM TẮT các VẦN THÔNG của vần BẰNG

    -A và Ơ thông với nhau. Ơ và Ư thông với nhau
    (Nhưng A và Ư KHÔNG thông với nhau được !)
    -E, Ê và I thông với nhau
    -O, Ô và U thông với nhau
    -AI thông với AY. AI thông với tất cả các ÂM sau đây: OI, ÔI, ƠI, ƯƠI, UI, Nhưng, AY, tuy thông với AI nhưng không thông với các ÂM trên! Tất cả những ÂM trên THÔNG với nhau.
    -AO thông với AU. AU thông với ÂU, Nhưng AO không thông với ÂU.
    AO thông với tất cả các âm sau: EO, ÊU, IÊU, IU, ƯU Nhưng AO và ÂU không thể thông.
    -AM thông với ƠM
    -ĂM thông với ÂM
    -ÊM thông với IM và EM
    -AN thông với ƠN
    -ĂN thông với ÂN và UÂN
    -EN, IN, IÊN, và UYÊN thông nhau
    -ON, ÔN và UÔN hoặc UN thông nhau
    -ANG và ƯƠNG thông nhau. ƯƠNG và UÔNG thông nhau. Nhưng ANG không thông với UÔNG.
    -ĂNG, ÂNG, và ƯNG thông nhau
    -ONG, ÔNG, và UNG thông nhau
    -ANH, ÊNH và INH thông nhau

    *LƯU Ý :
    ***ĂN và ĂNG, ÂN và ÂNG, hay UN và UNG, ON và ONG, ÔN và ÔNG vv... không thông nhau. Những chữ có "G" theo sau nhất định chỉ thông với những chữ có G theo sau ! Đây là điểm mà Nhất Lang nhìn thấy người có giọng phát âm của miền Nam hay bị lầm vì sơ ý hay theo thói quen. (Nhất Lang lắm khi cũng không ngoại lệ)

    ***NHẮC LẠI : Khi Nhất Lang bảo là THÔNG thì có nghĩa là những ÂM ấy VẦN với nhau được !

    d-Vần thông của vần TRẮC
    Vần thông của vần TRẮC cũng dựa theo nguyên tắc như những vần thông của vần BẰNG.
    Vần thông có nguyên âm đứng cuối :
    -É, Í, Ẻ, Ỉ, Ẽ, Ĩ, Ẹ, Ị thông với nhau.
    Cũng như vần BẰNG tất cả những âm I có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều có thể thông với những âm Y có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG, nhưng Y không thông được với E.
    -Ổ, Ũ, Ó, hay Ộ, Ú, Ọ thông nhau
    -Ọ và ỦA thông nhau (tất cả các âm O và UA có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều thông)
    -ĨA và UỆ thông nhau
    -ÁO, IỄU, ẢO, YẾU, ÉO, ỈU, ỮU và tất cả các đồng âm có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều vần được.
    -ÓI, ẢI, Ội, ỠI, ƯỢI, ÚI và các đồng âm có các dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều vần nhau được.
    -ẤC và ỰC thông nhau
    -ẠM, ỢM, ÁM, ỞM thông nhau
    -ẶN và ẨN hay UẨN thông nhau
    -ÓNG và ÚNG
    -ẬT và ẮT
    -ẬT và ỨT
    -ÚT và UỐT vv...
    Tóm lại : vần thông của vần TRẮC không khác chi vần thông của vần BẰNG về ÂM, tuy nhiên ta cần hiểu rõ khác biệt giữa TRẮC và BẰNG.


    4) GIEO VẦN
    Sau đây là các điều đáng nhớ trong sự GIEO VẦN:
    * A, Ă, Â rất thường được GHÉP với một phụ âm khác như C, M, N, P, T để tạo thành âm GHÉP như: AC, ĂC, ÂC... AM, ĂM, ÂM... AN, ĂN, ÂN... AP, ĂP, ÂP... AT, ẮT, ẤT vv... Những vần GHÉP nói trên CHỈ thông được với nhau khi có cùng một phụ âm đứng trước!
    Thí dụ: BÁT thông được với BẮT hay BẤT, mà KHÔNG thông được với CẮT hay CẤT hoặc MẮT hay MẤT... tuy nhiên BÁT thông được CÁT hay MÁT vì chúng đều có âm GHÉP "AT" theo sau.
    *TAM thông với TĂM hay TÂM, mà KHÔNG thông với CĂM hay CÂM, cũng không thông được với TRĂM hay TRÂM... tuy nhiên TAM thông được với CAM, TRAM, vì chúng có cùng âm GHÉP "AM" theo sau.
    *TAN thông với TĂN hay TÂN, mà không thông với VĂN hay VÂN vv...

    a-Khi có vần GHÉP bằng 2 hoặc 3 chữ nguyên âm với một phụ âm đứng cuối: IÊN, UYÊN, UÂN, UÔN, ta nên lấy 2 chữ cuối cùng làm VẬN CĂN, Có nghĩa là dựa theo hai chữ cuối cùng mà gieo vần...
    Thí dụ:
    -EN, IN, vần với YÊN hay UYÊN
    -ÂN vần với UÂN
    -ƠN vần với OAN
    -ON vần với UÔN

    b-Vần GHÉP bằng 2 hay 3 nguyên âm với 2 phụ âm
    Thí dụ như chữ ƯƠNG... thì ta nên lấy 3 chữ cuối mà làm VẬN CĂN để GIEO VẦN.
    Cho nên : ƯƠNG vần với ANG,
    Cũng nên nhớ : ƯƠNG vần với UÔNG vì Ơ vần với Ô, nhưng UÔNG không vần với ANG vì Ô không vần với A.

    c-Vần GHÉP bằng 2 hay 3 nguyên âm :
    Khi có loại âm này thì ta nên theo âm điệu mà lấy 1 hay 2 chữ ấy mà làm VẬN CĂN.
    Thí dụ:
    -OA, OE, UÊ, UY... thì vận căn là A, E, Ê, Y; nên OA vần với A, OE vần với E, UÊ vần với Ê, UY vần với I hay Y.
    -UÂY vần với ÂY
    -IA, UYA, UA, ƯA... vận căn là I, Y, U, Ư, mà chữ A đứng cuối không ảnh hưởng chi cả.
    -I vần với IA
    -A vần với IA trong chỉ một chữ GIA, không vần với IA bắt đầu bằng phụ âm khác, như TIA, KIA...
    -Ư vần với ƯA
    -Ô vần với UA vv...

    d-Lưu ý :
    -Hai tiếng đồng âm và đồng nghĩa thì không vần được với nhau !
    -Hai tiếng đồng âm mà khác nghĩa thì vần được !
    Các bạn và các em đọc lại tất cả các bài trên đây để làm quen và có gì thắc mắc, cứ hỏi... Nhất Lang sẽ cố gắng trả lời theo khả năng của mình.
    Sau khi mọi người thông qua từ BẰNG & TRẮC, BỔNG & TRẦM, VẦN CHÍNH & VẦN THÔNG thì mình sẽ bắt đầu nói đến THƠ LỤC BÁT !
    Những bước trên là những điều căn bản mà các anh chị, các bạn, và các em cần phải hiểu khi bắt đầu tập làm thơ.
    Nhất Lang mong rằng những điều ghi trên giúp ích được cho các anh chị, các bạn, và em muốn làm quen cùng nguyên tắc làm thơ. Bài kế tiếp Nhất Lang sẽ bắt đầu nói đến những loại thơ. !

    Vần trong thơ

    ai, oi, ôi, ơi, ươi, ui
    ao, eo, êu, iêu, iu, ưu
    am, ơm --> đi chung với nhau được
    ăm, âm
    êm, im
    an, ơn
    ăn, ân, uân
    en, in, iên, uyên
    on, ôn, uôn
    on, un
    ang, ương --> nhưng không đi được với uông
    ăng, âng , ưng
    ong, ông, ung
    uông, ương
    anh, ênh, inh --> đi chung với nhau được
    é, ị --> đi chung với nhau được
    ổ, ũ
    ọ, ủa
    ĩa, uệ
    áo, iễu
    ói, ủi
    ác, ước
    ấc, ực
    ạm, ợm
    ặn, ẩn
    óng, úng
    ật, ắt
    ật, ứt
    út, uốt

    ** Có bốn điều hệ-trọng nên nhớ trong sự gieo vần quốc-ngữ

    1.- Trong sự gieo vần quốc-ngữ, có ba âm: a, ă, â ghép với một phụ-âm c, m, n, p, t thành một âm ghép như:
    ac, ăc, âc
    am, ăm, âm
    an, ăn, ân
    ap, ăp, âp
    at, ăt,ât
    những vần ghép ấy chỉ thông được với nhau khi có cùng một phụ âm đứng trên ví dụ:
    Bát thông được với bắt, bất mà không thông được với cắt , cất, mắt, mất
    Lam đi với lăm, lâm, nhưng không thông với băm, bâm, trăm, trâm
    Quan đi với quăn, quân, nhưng không thông với chăn, chân, nhăn, nhân v.v... Đó là do cách hiệp vận do âm-điệu điều-hoà mà thành lệ

    2.- Khi có vần ghép bằng hai hay ba chữ nguyên-âm với một phụ- âm đứng cuối như: iên, uyên, uân, uôn, thì người ta lấy hai chữ cuối cùng làm vận căn mà gieo vần, cho nên
    en, in vần với yên, uyên
    ân vần với uân
    ơn vần với oan
    on vần với uôn
    khi có vần ghép bằng hai chữ nguyên-âm với hai chữ phụ-âm như ương, thì người ta lấy ba chữ cuối cùng làm vận căn mà gieo vần, cho nên
    ang thông với ương
    uông thông với ương nhưng không thông với ang, vì a không thông được với ô

    3.- Khi có vần ghép bằng hai hay ba nguyên-âm thì người ta theo âm điệu mà lấy một hay hai chữ nguyên âm làm vận căn, như:
    oa, oe, uê, uy
    thì vận căn ở chữ a, e, ê, y, cho nên
    oa vần với a
    oe vần với e
    uê vần với ê
    uy vần với i
    uây vần với ây
    Những vần ia, uya, ua, ưa , thì vận căn lại ở chữ i, y, u, ư mà chữ a đứng ở cuối tiếng không có ảnh-hưởng gì cả .

    4.- Hai tiếng đồng âm và đồng nghĩa thì không vần được với nhau, song hai tiếng tuy đồng âm mà khác nghĩa, tức là hai tiếng khác nhau, thì vần với nhau được.
     

Chia sẻ trang này