Huyền thoại TTKH

Thảo luận trong 'Sưu tầm' bắt đầu bởi Sưu Tầm, 6/4/15.

  1. Sưu Tầm

    Sưu Tầm Administrator

    Tham gia ngày:
    6/4/15
    Bài viết:
    26
    Đã được thích:
    4
    Điểm thành tích:
    3
    Giới tính:
    Nữ
    TTKh. tác giả bài thơ Hai sắc hoa ty gôn là ai?
    (Nguồn: Internet)


    Trong những bài thơ tác giả ẩn danh hoặc ký tên nhưng không biết rõ người ấy là ai, Hai sắc hoa ty gôn và TTKh là một huyền thoại lãng mạn đã gây mối trắc ẩn cho nhiều thế hệ yêu thơ.
    Câu chuyện bắt đầu cách đây 70 năm, ngày 27/9/1937 trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, số 174 xuất bản tại Hà Nội, có đăng truyện ngắn Hoa ty gôn của Thanh Châu, nội dung kể lại mối tình tan vỡ của một đôi trai gái ngày trước đã hò hẹn dưới giàn hoa ty gôn. Ít lâu sau, một người đàn bà trẻ, dáng dấp bé nhỏ, nét mắt u buồn, mang đến tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy một phong bì dán kín, gửi cho ông chủ bút, trong có bài thơ Hai sắc hoa ty gôn, ký tên TTKh. Bài thơ Hai sắc hoa ty gôn được đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy số 179, ra ngày 30/10/1937, và sau đó còn có ba bài nữa cũng ký tên TTKh. được gửi bằng đường bưu điện đến tòa soạn, đó là những bài:
    Bài thơ thứ nhất, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy số 182 (20/11/1937)
    Đan áo cho chồng, đăng trên Phụ Nữ Thời Đàm,
    và Bài thơ cuối cùng, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, số 217 (23/7/1938).

    Bài thơ thứ nhất xuất hiện sau Hai sắc hoa ty gôn gần một tháng, và Bài thơ cuối cùng xuất hiện 8 tháng sau. Ngay sau khi Hai sắc hoa ty gôn xuất hiện, giới văn nghệ sĩ đã xôn xao, thi sĩ J. Leiba, người có cùng tâm sự với TTKh., và là tác giả hai câu thơ nổi tiếng "Người đẹp vẫn thường hay chết yểu. Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai", chép lại nguyên văn bài Hai sắc hoa ty gôn trên Ngọ Báo với lời mở đầu:

    Anh chép bài thơ tự trái tim
    Của người thiếu phụ lỡ làng duyên
    Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ
    Yên ủi anh và để tặng em.

    Nguyễn Bính sau khi đọc Bài thơ thứ nhất đã viết bài Dòng dư lệ để tặng TTKh., in trong tập Lỡ bước sang ngang và Thâm Tâm có ba bài Màu máu ti gôn, Dang dở và Gửi TTKh. Hầu hết những bài thơ này đều được ghi vào văn học sử và nhiều thế hệ sau còn có những bài thơ sụt sùi thương cảm cho số phận TTKh. Vậy TTKh. nàng là ai?

    Hai sắc hoa ty gôn đã mở đường cho một lối lãng mạn khác với lãng mạn Đông Hồ, Tương Phố. Có thể nói giọt lệ mới nơi TTKh. không phải là giọt lệ khóc chồng, khóc vợ mà là giọt lệ khóc cho tình yêu, hơn thế nữa, khóc cho người tình ngoài chồng, một đối tượng tự do, phóng khoáng, vượt khỏi khuôn khổ lễ giáo thời bấy giờ. Và lần đầu tiên hai chữ người ấy được chính thức đưa vào thi ca, trở thành "cổ điển", được chấp nhận trong ngôn ngữ gối đầu giường của giới trẻ trong nhiều thế hệ:

    Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
    Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,
    Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,
    Tôi chờ người đến với yêu đương.

    Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
    Dải đường xa vút bóng chiều phong,
    Và phương trời thẳm mờ sương, cát,
    Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.

    Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
    Thở dài trong lúc thấy tôi vui,
    Bảo rằng:"Hoa, dáng như tim vỡ,
    Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!"

    Thuở ấy, nào tôi đã hiểu gì
    Cánh hoa tan tác của sinh ly,
    Cho nên cười đáp:"Màu hoa trắng
    Là chút long trong chẳng biến suy."

    Đâu biết lần đi một lỡ làng,
    Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
    Người xa xăm quá! - Tôi buồn lắm,
    Trong một ngày vui pháo nhuộm đường...

    Từ đấy, thu rồi, thu lại thu,
    Lòng tôi còn giá đến bao giờ
    Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ...
    Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
    Mà từng thu chết, từng thu chết,
    Vẫn giấu trong tim bóng "một người".

    Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết
    Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
    Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ.
    Và đỏ như màu máu thắm pha!

    Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
    Một mùa thu trước rất xa xôi...
    Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,
    Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

    Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
    Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
    Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
    Người ấy ngang sông đứng ngóng đò.

    Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
    Trời ơi! Người ấy có buồn không?
    Có thầm nghỉ tới loài hoa... vỡ
    Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?
    (Tiểu thuyết thứ bảy, số 179, 30-10-1937)

    Trong văn xuôi, hai chữ người ấy đã được Nguyễn Trọng Quản dùng để chỉ người tình trong truyện ngắn Thày Lazarro Phiền từ 1887 và Thanh Châu xướng lên hình ảnh hoa ty gôn trong truyện ngắn đăng trước bài thơ của TTKh. một tháng, cũng trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy. Nhưng TTKh. mới là người người nghệ sĩ đầu tiên đã đem hai chữ người ấy và hình ảnh hoa ty gôn vào thơ, như một hình tượng nghệ thuật mơ hồ và phiếm định về người tình và cuộc tình tan vỡ. Về mặt tâm lý xã hội, người đàn bà có chồng thời những năm 36 - 37, mấy ai dám nói đến người tình một cách công khai? TTKh. đã viết nên tâm sự bao nhiêu người đàn bà cùng cảnh ngộ ngang trái, sống trong xã hội Khổng Mạnh đầu thế kỷ:

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
    Mà từng thu chết, từng thu chết,
    Vẫn giấu trong tim bóng "một người".

    Trong Bài thơ thứ nhất, in sau Hai sắc hoa ty gôn một số, yếu tố xác định về cuộc tình này được nêu lên qua những câu:

    Ở lại vườn Thanh có một mình
    Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh
    Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo
    Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.

    và nhất là hai câu cuối:

    Biết đâu tôi một tâm hồn héo
    Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.

    Vườn Thanh và chồng nghiêm là hai yếu tố gây ra tranh cãi sau này về nơi xẩy ra cuộc tình, vườn Thanh ở đây có phải là ở Thanh Hóa không? Và người chồng của TTKh. tên là gì, có phải là Nghiêm không?

    Đến bài thơ thứ ba, bài Đan áo cho chồng, lời thơ xa xót đầy nước mắt:

    Ngoài trời mưa gió xôn xao
    Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm
    Ai đem lễ giáo giam em
    Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời.

    và Bài thơ cuối cùng có những câu gần như khó hiểu:

    Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
    Mà viết tình em được ích gì?

    Bởi nếu nàng, TTKh., là người đem chuyện của mình ra viết thì tại sao lại trách ai? Vậy ai đây là ai? Là nàng trách chính nàng hay nàng trách người yêu? Nhất là đoạn sau, lời trách cứ càng thêm gay gắt:

    Là giết đời nhau đấy biết không?
    Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
    Giận anh em viết dòng dư lệ
    Là chút dư hương điệu cuối cùng.

    Tất cả những lời trách móc u uẩn này với nhịp điệu du dương, lời thơ tha thiết, gắn bó, làm cho toàn bộ tác phẩm trở thành huyền thoại.
    Nếu so sánh 4 bài thơ ký tên TTKh. và 3 bài thơ "trả lời" của Thâm Tâm in trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy sau đó, người ta có thể mở được những nấc cửa đầu tiên vào những bí ẩn này. Bài Gửi TTKh. có những câu:
    ...
    Tiếng xe trong vết bụi hồng
    Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ
    Tiếng xe trong xác pháo xưa,
    Nàng đi có bốn bài thơ trở về
    Tiếng xe mở lối vu qui
    Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời!
    Miệng chồng, Khánh gắn trên môi
    Hình anh, mắt Khánh sáng ngời còn mơ.
    Từ ngày đàn chia đường tơ
    Sao tôi không biết hững hờ nàng đan
    Kéo dài một chiếc áo len
    Tơ càng đứt mối, nàng càng nối dây.
    Nàng còn gỡ mãi trên tay,
    Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.
    Góp hai thứ tóc đôi đầu,
    Sao còn đan nối những câu tâm tình?
    Khánh ơi còn hỏi gì anh?
    Lá rơi đã hết mầu xanh màu vàng."
    ....
    Thâm Tâm nhắc đến người yêu tên Khánh. Vậy TTKh. là ai? TTKh. là những chữ Thâm Tâm - Khánh, viết tắt? Hay TTKh. là Tuấn Trình - Khánh (vì Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình). Hay TTKh. là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm?

    Có thể nói hầu hết những nhà phê bình biên khảo từ Hoài Thanh, Hoài Chân, trong Thi Nhân Việt Nam (1940), Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên (1965), Nguyễn Hữu Long, Nguyễn Tấn Trọng trong Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến (1968) ... và gần đây trong Tuyển Tập Thơ Mới 1932-1945 Tác Giả và Tác Phẩm do Lại Nguyên Ân và Ý Nhi tập hợp phát hành năm 1992. Tất cả đều đánh dấu hỏi về TTKh.

    Lập luận của Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng

    Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng là hai nhà biên khảo đầu tiên có ý tìm hiểu kỹ nhất về cái mà hai ông gọi là "Nghi án TTKh. và Thâm Tâm". Trong bộ Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, hai ông đưa ra những nhân chứng và những giả thuyết đã xuất hiện trên báo chí văn đàn từ năm 38 đến 68 của các ông Giang Tử, Thạch Hồ, Y Châu, Nguyễn Bá Thế, Lê Công Tâm, Anh Đào. Người thì cho rằng TTKh. chính là Thâm Tâm. Người lại quả quyết TTKh. là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm.
    Ông Giang Tử thuật lại cuộc gặp gỡ với nhà thơ Tế Hanh vào tháng 11 năm 1944 trên chuyến xe đi Quảng Ngãi: "Tế Hanh cho biết TTKh. chính là Trần Thị Khánh, người em gái đồng tông với mình ở Thanh Hoá và kể rõ thiên tình hận của nàng và thi sĩ Thâm Tâm. Giả thuyết này không đứng vững vì Tế Hanh không phải người Thanh Hoá mà Quảng Ngãi và vườn Thanh trong bài thơ không chắc đã là Thanh Hoá.
    Ông Thạch Hồ và ông Y Châu đều cho biết: TTKh. là một nhân vật có thật, đã đôi ba lần đến thăm thi sĩ Thâm Tâm ở Khâm Thiên, lúc ông này ở chung với Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân (giả thuyết này phù hợp với lời tường thuật của Nguyễn Vỹ sau này).
    Ông Nguyễn Bá Thế, tức nhà văn Thế Nguyên lại xác định: TTKh. chính là nhà văn Thẩm Thệ Hà, có tên thật là Tạ Thành Kỉnh, TT là Tạ Thành còn K và H là chữ Kỉnh viết tắt. Việc này bị Thẩm Thệ Hà phủ định hoàn toàn.

    Nhưng có ba giả thuyết đáng chú ý:

    - Trên tạp chí Giáo Dục Phổ Thông, số 49, ra ngày 1/11/1959, ông Lê Công Tâm cho biết: TTKh. chính là thi sĩ Thâm Tâm, người đã dàn cảnh một thiếu phụ bị ép duyên, khóc tình dang dở bằng những bài thơ Hai sắc hoa ty gôn và Bài thơ thứ nhất.
    - Báo Sống ra ngày 15/4/1967, có bài của ông Nguyễn Tố, xác định đã sống chung với Thâm Tâm năm 1936, cùng với Trần Huyền Trân, Vũ Trọng Can. Thâm Tâm có mấy bài thơ ký tên TTKh. như bài Hai sắc hoa ty gôn. Lúc đó Khánh là người mà Thâm Tâm yêu say đắm, lúc Khánh đi lấy chồng, Thâm Tâm đau khổ gần như phát điên. Lũ chúng tôi vừa giễu cợt, vừa khuyên lơn. Chính trong thời gian thất tình, Thâm Tâm viết được mấy bài thơ ký tên TTKh.
    - Nhưng trong báo Nhân Loại, bộ mới số 108 ra tháng 7 năm 1958 tại Sàigòn, ông Anh Đào lại đưa ra một thoại mới mà thoại này, theo ông, do chính Thâm Tâm kể lại. Ông Anh Đào kể rằng: Năm 1941, trong một đêm thu lạnh lẽo, ông được ngồi giữa hai nhà thơ Nguyễn Bính và Thâm Tâm bên một bàn đèn thuốc phiện và chính ông được nghe Thâm Tâm tâm sự. Thâm Tâm nói rằng: TTKh. là tên một thiếu phụ mà trước kia tôi yêu. Và Thâm Tâm xác định những bài thơ đăng trên báo là của nàng, và ông Anh Đào kết luận rằng Thâm Tâm xứng đáng là "người ấy" của TTKh.

    Sau khi đưa ra các luận chứng và giả thuyết trên đây, Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng, tác giả Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, kết luận:
    TTKh. không thể là sản phẩm tưởng tượng của Thâm Tâm vì đó là nỗi lòng tha thiết của một người, với những vần thơ lâm ly như thế thì người khác không thể viết thay được. vậy Thâm Tâm là Thâm Tâm và TTKh. là TTKh. Hai người có thể là đôi tri kỷ nhưng không thể cùng là một người. Các tác giả Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến muốn đóng hồ sơ nghi án trên một huyền thoại.

    *


    Sự xác định của Nguyễn Vỹ

    Năm 1970, khi nhà thơ Nguyễn Vỹ xuất bản cuốn Văn Thi Sĩ Tiền Chiến tại Sàigòn, thì ông đã đưa sự thực về Thâm Tâm và TTKh. ra ánh sáng.
    Như chúng ta đã biết, sau Phan Khôi, Nguyễn Vỹ cùng với Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Manh Manh, Thế Lữ là những người đã phát triển phong trào Thơ Mới. Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn lập trường phái Bạch Nga, chủ trương cách tân thơ, chú trọng đến khía cạnh âm nhạc và hình thức xếp chữ trong thơ. Trường phái Bạch Nga bị Thế Lữ và Hoài Thanh đả kích kịch liệt, thơ Nguyễn Vỹ không được tiếp nhận đúng mức. Đánh giá thơ Nguyễn Vỹ là một vấn đề khác mà chúng tôi không đề cập đến trong bài này. Nguyễn Vỹ là bạn thân của Lan Khai, Lưu Trọng Lư, Trương Tửu và trong cuốn Văn Thi Sĩ Tiền Chiến ông đã vẽ lại chân dung 35 nhà văn, nhà thơ sinh hoạt trong không khí văn học từ đầu thế kỷ đến 1945. Một tư liệu quý cho những người nghiên cứu văn học.
    Sau hơn 30 năm im lặng, 1970, một năm trước khi mất, Nguyễn Vỹ đã công bố những lời tâm sự của Thâm Tâm 22 năm sau khi nhà thơ qua đời trong bài viết Thâm Tâm và sự thât về TTKh. mà chúng tôi xin lược trình sau đây:
    Năm 1936, 37 có xuất hiện ở phố Chợ Hôm, ngoại ô Hà Nội, một nhóm văn sĩ trẻ với bút hiệu là Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và một vài người nữa. Ít ai để ý đến họ. Huyền Trân và Thâm Tâm đều mới 18, 19 tuổi. Họ có một tờ tuần báo nhỏ, tên là Bắc Hà ở phố Chợ Hôm. Chủ động trên tờ báo là Trần Huyền Trân. Báo Bắc Hà bán không chạy lắm, tuy có vài mục hài hước, vui, nhờ mấy bức vẽ của Tuấn Trình. Thâm Tâm là bút hiệu của Tuấn Trình. Tuấn Trình vẽ nhiều hơn viết, thỉnh thoảng đăng một bài thơ, vài mẩu truyện ngắn. Đôi khi thấy xuất hiện trên mặt báo vài ba bài thơ có tính cách ca dao, ái tình của Nguyễn Bính học sinh lớp nhất trường tiểu học Hà Đông. Nguyễn Bính thi rớt, nghỉ học luôn.



    Tôi -tức là Nguyễn Vỹ- tuy không chơi thân, nhưng quen biết Trần Huyền Trân khá nhiều vì anh ta ở trọ một căn nhà trong ngõ Khâm Thiên, phía sau chợ. Tôi ở một gác trọ của đường Khâm Thiên, gần Ô Chợ Dừa. Đôi khi Trần Huyền Trân nhờ tôi viết bài cho tuần báo Bắc Hà "cho vui" vì không có tiền nhuận bút. Để tỏ tình thông của văn nghệ, tôi có viết một truyện ngắn khôi hài, và chỉ có một lần.
    Trong một số báo đặc biệt Mùa Hè, Tuấn Trình có vẽ một cặp Bạch Nga bơi trên Hồ Hoàn Kiếm và ghi ở dưới "Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn".
    Tôi quen biết Tuấn Trình là do Trần Huyền Trân giới thiệu. Nhà anh ở Chợ Hôm, cách chợ độ ba, bốn trăm thước. Anh đẹp trai, y phục lúc nào cũng bảnh bao, người có phong độ hào hoa, lịch thiệp. Tôi thấy ở Sàigòn có anh Hoàng Trúc Ly, nhà văn, giống na ná Tuấn Trình về dáng điệu cũng như tính tình, tư cách. Nhiều khi gặp Hoàng Trúc Ly trên đường Bonnard Sàigòn, tôi quên lững, cứ tưởng như gặp Tuấn Trình trên phố Chợ Hôm Hà Nội.
    Một buổi chiều gần tối, Tuấn Trình đi lang thang gần chợ Khâm Thiên. Tôi từ Hà Nội về nhà, tôi tưởng anh đến Trần Huyền Trân, nhưng anh bảo: Thằng Huyền Trân nó đi đâu, không có nhà [...] Tôi rủ anh về gác trọ của tôi ở cuối phố.
    Hôm ấy, tôi có vài chục bạc trong túi, có thể làm một tiệc bánh giò chả lụa với Tuấn Trình. Tôi bảo anh ở lại ngủ với tôi cho vui. Đêm ấy cao hứng, Tuấn Trình ngà ngà say rượu Văn Điển, kể chuyện tình của anh với cô Khánh cho tôi nghe.
    Trần Thị Khánh là một cô học trò lớp nhất trường tiểu học Sinh Từ. Thi hỏng, cô ở nhà giúp mẹ làm việc nội trợ. Nhà cô cũng ở đường Sinh Từ, ngay cạnh Thanh Giám, nơi đền thờ Khổng Tử.
    Thanh Giám là một thắng cảnh Hà Nội, đã liệt vào cổ tích Việt Nam, xây cất từ đời nhà Lý, tu bổ cho tới đời nhà Lê, hình chữ nhật, xung quanh xây tường đá ong, cao độ hai thước Đền thì ở trong cùng, trước đền có Hồ Tròn, hai bên hồ có những tấm bia ghi tên các tiến sĩ đời nhà Lê. Vào Thanh Giám có cổng tam quan lớn, trước cổng có tấm bia đề hai chữ Hán "Hạ mã" và hai trụ cao. Trong vườn trồng rất nhiều cây cổ thụ và các cây kiểng, nơi đây rất yên tĩnh và mát mẻ, cũng là nơi các cặp trai gái hẹn hò tâm sự.
    Trước kia có một bầy quạ chiều tối bay về đây ngủ, cho nên người Pháp cũng gọi là Pagode des corbeaux. Chùa Quạ, ngoài danh từ lịch sử Temple de Confucius, Đền Khổng Tử.
    Cô nữ sinh Trần Thị Khánh là một thiếu nữ đẹp [...]. Tuấn Trình có người cô, nhà ở phố Chợ Cửa Nam, gần Sinh Từ. Anh thường đến đây và thường trông thấy cô Khánh đi chợ mỗi buổi sáng. Lúc ấy vào khoảng tháng 2 năm 1936, họa sĩ Tuấn Trình -tên gọi hồi đó- mới 19 tuổi, và cô Khánh 17 tuổi. Tuấn Trình mới bắt đầu vẽ và viết chút ít trong tờ tuần báo Bắc Hà của Trần Huyền Trân vừa xuất hiện.
    Sau một vài tháng theo dõi, Tuấn Trình làm quen được với cô Khánh và gởi báo Bắc Hà tặng cô. Cô gái 17 tuổi, cảm mến người nghệ sĩ tài hoa, tình yêu chớm nở như cành hoa antigone trắng cũng vừa chớm nở trong tháng đầu hè trước sân nhà cô.
    Antigone là loại hoa của người Pháp đem qua hồi đầu thế kỷ, không thơm nhưng đẹp. Nó là loại hoa dây, lá giống như lá nho, cho nên ở miền Nam nhiều người gọi là hoa nho. Có hai loại: hoa trắng và hoa hồng. Hoa nở vào đầu mùa hè thành những chùm rất dễ thương, nụ hoa giống hình trái tim nho nhỏ.[...] Ở Hà Nội người ta trồng rất nhiều và bán cũng rất nhiều ở chợ Đồng Xuân, cũng như ở Chợ Hoa, bờ hồ Hoàn Kiếm. Cắm nó vào lọ để phòng khách, nó buông ra một vẻ lãng mạn, khả ái lắm. Người Bắc gọi tắt là hoa ty gôn. Ở phố Sinh Từ, antigone mọc rất nhiều, như trước sân nhà ông Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Nhược Pháp. Nhà trọ của Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều ở phố Hàm Long có cả một giàn hoa trắng và hồng. Nhưng mùa đông lá rụng, hoa tàn thì không cảnh nào tiêu sơ quạnh quẽ bằng.
    Tình yêu của Tuấn Trình và Trần Thị Khánh chớm nở ngay lúc những chùm hoa antigone vừa hé nụ, và chết (trong những ngày) giữa mùa đông năm đó, trong lúc giàn hoa ty gôn úa tàn, rụng ngập đầy sân.
    Thời kỳ mơ mộng ngắn ngủi trong mấy tháng hè, sang hết mùa thu, không đem lại chút thỏa mãn nào cho tâm hồn khao khát của Tuấn Trình.
    Chính lúc này Tuấn Trình lấy bút hiệu là Thâm Tâm. Một vài bài thơ tình thức đêm làm tặng cô Khánh. Những bài thơ đầu tiên đăng trên tuần báo Bắc Hà đều ký là Thâm Tâm, nhưng các tranh vẽ trong báo vẫn ký Tuấn Trình. Nhưng cô gái 17 tuổi, dè dặt, theo lễ giáo của gia đình, chưa thật bao giờ đáp ứng đúng với tình yêu tha thiết của Tuấn Trình Thâm Tâm.
    Trong lúc những cặp tình nhân trẻ trung dắt nhau đi du ngoạn khắp nơi thơ mộng ở Hà Nội và ngoại ô, thì Trần Thị Khánh cứ phải từ chối những lời mời của Thâm Tâm. Cô thường nói: "Thầy mẹ em nghiêm lắm, gia đình em nghiêm lắm." Lần nào cô Khánh cũng lặp lại chữ nghiêm gia giáo ấy để trả lời kỳ vọng khát khao của người yêu.
    Chỉ được hai lần Khánh đến nơi hẹn, nhưng không được lâu. Lần thứ nhất, một đêm trăng, Khánh lẻn băng qua đường vào vườn Thanh Giám. Tuấn Trình đã chờ người yêu nơi đây, dưới bóng cổ thụ. Nhưng cả hai cũng không nói được gì, Khánh run sợ. Tuấn Trình bối rối, tất cả những lời lẽ bay bướm đã sắp sẵn, bây giờ quên hết. Cuối cùng lại trách móc nhau vì những chữ "Thầy mẹ em nghiêm lắm" và rồi Khánh cũng vội vã chạy về nhà.
    Lần thứ hai, vườn Thanh Giám đêm ấy cũng ngập ánh trăng thu. Nhiều người nói Thanh là Thanh Hóa, là hoàn toàn sai sự thật. Nhưng thái độ của Khánh lạ lùng, khó hiểu. Hình như Khánh muốn nói với Tuấn Trình một điều gì, nhưng ngại ngùng không nói. Rồi nàng buồn bã hỏi: "Anh định bao giờ đến xin thầy mẹ cho chúng mình?" Chàng họa sĩ bối rối trước câu hỏi bất ngờ. Chàng lơ đễnh bảo: "Anh chưa nghĩ đến việc ấy, vì..." Câu chuyện bị bỏ dở nơi đây cho đến khi từ giã. Hai người vẫn thư từ với nhau cho đến một hôm... Tuấn Trình nhận được một bức thư của người yêu, không, của người đã hết yêu, báo tin nàng sắp lấy chồng.
    Thư viết bằng mực tím, trên bốn trang giấy học trò, xé trong một quyển vở Nam Phương Hoàng hậu (loại vở học trò rất thông dụng lúc bấy giờ).
    Đại khái trong thư Khánh nhắc lại tình yêu "thơ mộng" của cô với "người nghệ sĩ tài hoa son trẻ", đó là những chữ cô dùng trong thư. Tình yêu rất đẹp, nhưng vì thầy mẹ của cô rất "nghiêm" theo lễ giáo, nên dù vị hôn phu của cô là một người chỉ mới biết sơ thôi nhưng cô vẫn có "bổn phận phải giữ tròn chữ hiếu", cô than thở đời cô khổ nên tình duyên ngang trái, cô khóc suốt đêm, v.v... Cuối thư ký tắt Kh.
    Tuy Khánh không viết gì về vị hôn phu và ngày cưới, nhưng sau dọ hỏi, Tuấn Trình được biết chồng Khánh là một nhà buôn giàu có ở phố Hàng Ngang, 39 tuổi, đẹp trai, góa vợ và không có con. (Trong câu thơ bên cạnh chồng Nghiêm luống tuổi rồi là chỉ sự cách biệt tương đối giữa tuổi 39 của người chồng và tuổi vị thành niên của Khánh)
    Tiệc cưới rất linh đình, rước dâu bằng 10 chiếc Citroën mới. Cô dâu đeo nữ trang rực rỡ, mặc chiếc áo màu đỏ tươi, lộng lẫy ngồi cạnh người chồng mặc áo gấm xanh.
    Đêm trước hôm cô Khánh lên xe hoa, Thâm Tâm tổ chức tại tòa báo Bắc Hà một tiệc thịt chó, uống Mai quế lộ, mời Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can tham dự. Họ say sưa ngâm thơ, làm thơ, cười đùa cho đến khuya rồi lăn ra ngủ trên đất.
    Trái với mọi dự đoán, Khánh rất hạnh phúc với chồng. Người đau khổ là Tuấn Trình Thâm Tâm. Vừa nhớ thương đơn phận, vừa bị mặc cảm của người nghệ sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn chế nhạo, đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can.
    Vì một chút tự ái văn nghệ, Tuấn Trình đã thức suốt đêm, theo lời anh thuật lại, để làm bài thơ Hai sắc hoa ty gôn, ký tên TTKh., với thâm ý cho Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm ra để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình nhờ cô em họ chép lại bài thơ trên, dán kín bao thơ và nhờ cô này mang thư đến tòa báo.
    Tất nhiên là giọng thơ lãng mạn của Tuấn Trình hoàn toàn khác với lời tâm sự trong bức thư cuối cùng của Khánh báo tin sắp lấy chồng. Cô Khánh không biết làm thơ. Và theo lời Tuấn Trình, cô ghét những bài thơ của Thâm Tâm. Sau khi nhận được bức thư cuối cùng của Khánh, trong thư Khánh tỏ ý không bằng lòng Tuấn Trình đã mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ trên báo, có thể làm hại đến cuộc đời của cô. Trong lá thư phản đối đó, Khánh xưng tôi chứ không xưng em nữa.
    Thâm Tâm lấy nội dung những lời thơ nghiêm khắc, giận dữ của người yêu cũ để làm Bài thơ cuối cùng với những câu:

    Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
    Mà viết tình em được ích gì?

    Bài thơ đan áo nay rao bán
    Cho khắp người đời thóc mách xem.
    Là giết đời nhau đấy biết không?
    Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
    Giận anh em viết dòng dư lệ
    Là chút dư hương điệu cuối cùng.
    Từ nay anh hãy bán thơ anh
    Còn để yên tôi với một mình

    Thâm Tâm lấy những lời, những chữ trách móc của Khánh trong thư để làm bài thơ ký tên TTKh. một lần cuối cùng, và để đáp lại Bài thơ cuối cùng, Thâm Tâm làm bài Dang dở tặng TTKh., cũng là bài thơ kết thúc niềm đau của mối tình dang dở:

    Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết,
    Anh càng buồn càng muốn kết thành thơ,
    Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ,
    Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn.
    Và thành chúc đời em luôn tươi sáng,
    Như mộng kiều đầm ấm tuổi xuân xanh,
    Như hương trinh bát ngát ý dịu lành,
    Hòa nhạc mới chiều dâng tơ hạnh phúc.

    Thụy Khuê, RFI 6/2000
     
  2. Sưu Tầm

    Sưu Tầm Administrator

    Tham gia ngày:
    6/4/15
    Bài viết:
    26
    Đã được thích:
    4
    Điểm thành tích:
    3
    Giới tính:
    Nữ
    Vài nét về nhà thơ TTKH(Tác giả bài "Hai sắc hoa Tigôn")

    T.Kh. tên thật là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm. Hai người yêu nhau, nhưng biết không lấy được nhau, hẹn giữ kín mối tình, để đỡ phiền đến gia đình của nhau sau này. Cô Khánh đọc Tiểu thuyết thứ bảy in truyện ngắn Hoa ti-gôn của Thanh Châu (số tháng 9-1937) xúc động, tự thổ lộ câu chuyện riêng bằng bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn và gửi đăng Tiểu thuyết thứ bảy.

    Bài thơ in ra gây xôn xao trong làng văn chương như ông Hoài Thanh ghi nhận. Tiếp đó để giải thích lý do viết bài Hai sắc hoa ti-gôn, T.T.Kh. gửi đến Tiểu thuyết thứ bảy một bài nữa, với tiêu đề là Bài thơ thứ nhất và viết tặng riêng Thâm Tâm bài thơ Đan áo.

    Lại càng xôn xao, nhiều người cho là nam giới giả danh, nhiều người nhận là người yêu của mình, trong số này có nhà thơ Nguyễn Bính.
    Thâm Tâm hồi ấy còn trẻ, với tính hiếu thắng của tuổi trẻ, ông đã gửi báo Phụ nữ đăng bài thơ Đan áo để minh chứng với thiên hạ rằng T.T.Kh. chính là người yêu của mình. Tất nhiên không có sự đồng ý của T.T.Kh.
    Và thế là T.T.Kh. giận, cô viết bài thơ lấy tiêu đề Bài thơ cuối cùng gửi đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy, vừa hờn vừa giận đầy yêu thương, và cũng từ đấy T.T.Kh. "tắt lịm" trên thi đàn.
    Sau này, Thâm Tâm có viết một bài thơ dài để trả lời T.T.Kh. bài Các anh, (tập thơ mới của Thâm Tâm, nhà xuất bản Văn học 1987, có in bài Các anh nhưng đây chỉ mới trích một phần).
    Lời bàn: Có người viết hàng trăm bài thơ, in hơn chục tập thơ, mà không gây được mộ vang hưởng nào trong nghệ thuật thơ. T.T.Kh. viết bốn bài, có bài đã gây được vang hưởng.


    Ðã gần 7 thập niên, kể từ khi 4 bài thơ độc đáo của TTKh được phổ biến trên 2 tạp chí Tiểu thuyết thứ bẩy và Phụ nữ thời đàm ở Hà nội. Giới văn chương, báo chí cũng như những người yêu thích thơ văn tiền chiến đã tốn khá nhiều bút mực, công lao để tìm hiểu về thân thế và con người thật ngoài đời của bà, nhưng đến nay vẫn còn nhiều mù mờ ! Gần đây đã có vài khám phá đáng mừng, dù vậy văn học sử vẫn còn cần thời gian để kiểm chứng mức độ chính xác của nó .

    Trong suốt thời gian dài vừa qua, biết bao nhiêu những dữ kiện được thêu dệt rất lãng mạn liên quan đến tác gỉa bởi những người yêu thơ của bà cũng như những nhà làm văn nghệ...Vài người còn tưởng tượng hay đưa ra những chứng minh tự nhận mình là người yêu của bà !.

    Trong bài này, chúng tôi thu gom một số tài liệu từ xưa đến nay viết về TTKh cũng như đề cập đến nguyên nhân mà những bài thơ của bà đã được xuất hiện trên thi đàn. Ðây cũng chỉ là công việc sắp xếp những tài liệu đó cho có thứ tự với hy vọng cung ứng một vài kiến thức cho những người thích thơ văn tiền chiến và nhất là thơ của TTKh mà thôi.

    1.Sự xuất hiện TTKh. trên thi đàn tiền chiến:

    Vào khoảng giữ năm 1937, trên tạp chí ’’ Tiểu thuyết thứ bẩy ’’ xuất bản ở Hà Nội có đăng một truyện ngắn ’’Hoa Ti-gôn ’’ của ký gỉa Thanh Châu. Ðây là một truyện khá bi đát, trong đó mô tả truyện tình của một họa sĩ trẻ vừa ra trường tên Lê Chất. Trong một lần đạp xe đi tìm phong cảnh để vẽ ở một làng quê ven Hà Nội, ngẫu nhiên khi đi qua một căn biệt thự cổ Lê Chất nhìn thấy một cô gái rất đẹp, mặc áo ngắn tay bằng lụa đang đứng trên chiếc ghế cao níu lấy một cành hoa ti gôn mầu đỏ.

    Sắc đẹp của người thiếu nữ nổi trội lên giữa giàn hoa ti gôn đỏ đã làm cho người hoạ sĩ mẩn mê đứng nhìn... Rồi từ hôm đó, ngày nào anh ta cũng tìm cách quanh quẩn gần căn biệt thự để được nhìn cô gái và ngược lại cô gái cũng thấy anh ta. Nhưng chỉ được vài lần, rồi không biết lý do gì người con gái không còn xuất hiện nữa.

    Thời gian qua đi, mang thành công và danh vọng đến cho người hoạ sĩ, nhưng anh ta vẫn không bao giờ quên hình bóng người con gái đẹp dưới giàn hoa tigôn mầu đỏ mà anh ta đã gặp gỡ ngày còn nghèo khổ xa xưa .

    Rồi ngẫu nhiên, 9 năm sau, trong lần đi tìm dề tài sáng tác ở miền Nam Trung Quốc, anh ta được mời tham dự buổi dạ vũ trong toà lãnh sự Pháp tại Vân Nam . Lê Chất gặp lại cô con gái ngày xưa, nhưng trong nhiều oái oăm, muộn màng. Chồng của cô gái là một viên chức cao cấp của toà lãnh sự, người chồng mà cô ta không hề yêu thương . Trong lần tái ngộ đó, họ khiêu vũ, tâm sự với nhau, và tiếp theo mối tình của họ được tiếp nối trong vụng trộm . Ðến một lần, họ dự tính bỏ lại đằng sau tất cả để tìm cách trốn đi Nhật sinh sống với nhau.

    Nhưng đến giây phút cuối, người thiếu phụ gửi cho chàng họa sĩ một lá thư, kèm một chùm hoa tigôn mầu đỏ máu, nàng từ chối ra đi vì không đủ can đảm từ bỏ danh dự và tai tiếng của gia đình cũng như sự khinh bỉ của gia đình chồng.

    Buồn đau vì ý định không thành, người họa sĩ vẫn ra đi Nhật bản một mình trước khi trở về Hà nội. Rồi, ngẫu nhiên, bốn năm sau, anh ta nhận được lá thư từ người chồng của cô gái báo tin nàng đã mất ! Lê Chất sang Vân Nam viếng mộ người xưa với một chùm dây hoa tigôn, loại hoa kỉ niệm mối tình của họ. Cũng từ đó cho đến suốt cuộc đời, cứ vào mua hoa tigôn nở, Lê Chất không bao giờ quên mua những chùm hoa tigôn để trang hoàng trong phòng làm việc như để tưởng nhớ đến người yêu xa xưa vắn số của mình .

    Mấy ngày sau khi câu truyện ngắn trữ tình đó xuất hiện trên báo, có một thiếu phụ khỏang 20 tuổi, dáng dấp nhỏ bé, thùy mị, nét mặt u buồn mang đến toà báo, đưa tận tay người chủ bút một phong thư dán kín. Trong đó có một bài thơ rất hay với đề tựa ’’Hai sắc hoa tigôn’’ được ký tên tác gỉa là T.T.Kh.

    Bài thơ não lòng, lột tả được tất cả cái đau xót của người con gái đã phải xa người mình yêu, người đã cùng mình gắn bó thề ước dưới giàn hoa tigôn để đi lấy chồng, người mà mình không hề yêu:

    Người ấy thường hay vuốt tóc tôi

    Thở dài trong lúc thấy tôi vui

    Bảo rằng: hoa dáng như tim vỡ

    Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi !

    Nỗi đau buồn đó đã theo hết cuộc đời của nàng trong sự hững hờ của gia đình chồng vì biết nàng vẫn còn tưởng nhớ đến tình nhân xa cũ :

    Từ đấy thu rồi thu lại thu

    Lòng tôi còn gía đến bao giờ

    Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ

    Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

    Cái ray rứt, cái đau khổ vì nghĩ mình là kẻ phụ bạc vẫn theo dầy vò người thiếu phụ, làm cho nàng sợ những buổi chiều thu nhạt nắng, sợ bóng dáng ai kia vẫn còn nhớ đến chùm hoa kỷ niệm đỏ tựa máu hồng :

    Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ

    Chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu

    Gío về lạnh lẽo,chân mây vắng

    Người ấy sang sông đứng ngóng đò

    Nếu biết rằng tôi đã có chồng

    Trời ơi, người ấy có buồn không?

    Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ

    Tựa trái tim phai, tựa máu hồng !

    Khi bài thơ ‘’ Hai sắc hoa tigôn ‘’ vừa cho lên mặt báo đã gây xôn xao trong giới yêu văn chương. Nhiều nhà phê bình đã không ngần ngại cho rằng đây là một kiệt tác. Trong không khí sôi động đó, toà báo lại nhận thêm được một bài thơ khác cùng tác gỉa, qua đường bưu điện với đề tựa ‘’ Bài thơ thứ nhất ‘’. Bài thơ này cũng với những câu thơ buồn đau đầy nước mắt, giải thích, mô tả kỹ lưỡng hơn về mối tình dang dở của cặp tình nhân gặp nhau rồi yêu nhau và cuối cùng không biết vì lý do nào đó người đàn ông rời xa, người đàn bà ở lại yêu kỷ niệm cho đến ngày lấy chồng :

    Ở lại vườn Thanh có một mình

    Tôi yêu gío rụng lúc tàn canh

    Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo

    Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành

    Và một ngày kia tôi phải yêu

    Cả chồng tôi nữa , lúc đi theo

    Những cô áo đỏ sang nhà khác !

    Người con gái đã tưởng rằng, cuộc tình dang dở của mình đã đi vào dĩ vãng. Thời gian và ngăn cách cũng làm đổi thay nơi cố nhân để giúp nàng quên được mối tình xa xưa, lỡ dở đó. Nhưng oái oăm thay, người xưa vẫn còn nặng lòng, tưởng nhớ đến nàng, đến chòm hoa tigôn mầu đỏ hình tim kỷ niệm :

    Ðang lúc lòng tôi muốn tạm yên

    Bỗng ai mang lại cánh hoa tim

    Cho tôi ép nốt dòng dư lệ

    Rỏ xuống thành thơ khóc chút duyên !

    Ðẹp gì một mảnh lòng tan vỡ

    Ðã bọc hoa tàn dấu xác xơ !

    Tóc úa giết lần đời thiếu phụ

    Thì ai trông ngóng chẳng nên chờ.

    Khi bài thơ thứ nhất được đưa lên báo, có người thắc mắc tại sao bài thơ Hai sắc hoa Tigôn lại được gửi đăng báo trước bài Thơ thứ nhất ?

    Người ta cho rằng, tác gỉa đã làm bài Thơ thứ nhất, than khóc cho mối tình lỡ dở của mình từ lâu nhưng vì một lý do nào đó không gửi đăng báo. Nhưng sau đó, ngẫu nhiên đọc câu truyện ngắn Hoa Tigôn cuả ký gỉa Thanh Châu, cảm động với câu truyện và nhất là tìm thấy nhiều dữ kiện tương đồng với mối tình ngang trái của chính mình, tác gỉa đã làm bài thơ Hai sắc hoa Tigôn rồi gửi ngay cho toà báo. Chính vì thế bài thơ thứ nhất được phổ biến sau bài Hai sắc hoa tigôn:

    Buồn qúa hôm qua xem tiểu thuyết

    Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa

    Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ

    Và đỏ như mầu máu thắm pha

    Cũng ở tuổi ngây ngô lúc mới gặp nhau thì làm sao hiểu được ý nghĩa của những tiếng thở dài của người yêu? !

    Thủa đó nào tôi đã hiểu gì

    Cánh hoa tan tác của sinh ly

    Cho nên cười đáp mầu hoa trắng

    Là chút lòng trong chẳng biết suy !

    Sau khi bài thơ thứ nhất được đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bẩy, giới văn nghệ càng bàn tán nhiều hơn nữa. Bao nhiêu những tưởng tưộng,thêu dệt với những tình tiết lâm ly về hình dạng, thân thế và cả mối tình buồn đau lãng mạn của tác gỉa được đưa ra báo chí.

    Vẫn trong cái không khí xao động, bàn tán lung tung vì 2 bài thơ vừa đăng báo đó, tạp chí ‘’Phụ nữ thời đàm’’ ở Hà nội lại nhận được bài thơ ‘’ Ðan áo cho chồng ‘’ của cùng tác gỉa qua bưu điện. Bài thơ này cũng vẫn với giọng điệu buồn đau, nhưng có vẻ than van, oán trách thân phận mình nhiều hơn. Nàng mô tả như bị tù tội trong cuộc sống với người chồng không yêu nhưng vẫn mong đợi bóng dáng người xưa :

    Tháng ngày miễn cưỡng em đan

    Kéo dài một chiếc áo len cho chồng

    Như con chim hót trong lồng

    Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao !

    Ngoài trời mưa gío xôn xao

    Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm ?

    Ai đem lễ giáo giam em ?

    Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời...

    Bài thơ đan áo cho chồng vừa ra mắt thì toà báo Tiểu thuyết thứ bẩy lại qua đường bưu điện nhận được bài thơ thứ tư với đề tựa : Bài thơ cuối cùng .

    Ðúng như đề tựa của nó, sau bài thơ này, làng thơ không bao giờ còn nhận được thêm bài nào nữa, TTKh hoàn toàn biến mất trên thi đàn! Cũng từ đó trong lịch sử văn thơ tiền chiến phải nhận lấy sự bí mật về một tác giả mà chỉ có vỏn vẹn 4 bài thơ nhưng đã tạo được chỗ đứng rất vững trãi trong nền văn học VN.

    Ý tứ của bài thơ cuối cùng hơi khác 3 bài thơ trước, nó than van, mô tả nhiều hơn về nỗi xót xa của mối tình dang dở nhưng lại đượm đầy giọng trách móc cố nhân, đã vì hư danh mà rao bán bài thơ đan áo mà nàng đã tặng riêng cho chàng :

    Chỉ có ba người được đọc riêng,

    Bài thơ đan áo của chồng em

    Bài thơ đan áo nay rao bán

    Cho khắp người đời thóc mách xem ...

    Nàng hờn dỗi :

    Từ đây, anh hãy bán thơ anh

    Còn để yên tôi vớI một mình

    Những cánh hoa lòng, hừ ! đã ghét

    Thì đem mà đổi lấy hư vinh !

    Nhưng giận thế nào được khi lòng nàng vẫn còn đầy rẫy nhớ thương? Bóng dáng người xưa vẫn luẩn quẩn đâu đây trong tim và trí nhớ nàng ? :

    Tôi biết làm sao được hỡi trời

    Giận anh, không nỡ ! Nhớ không thôi!

    Mưa buồn, mưa hắt trong lòng ướt...

    Sợ qúa đi anh...Có một người !...

    Bài thơ cuối cùng xuất hiện vào giữa năm 1938, trong giới văn chương vẫn không giảm xút những lời bàn tán, thêu dệt về thân thế và cuộc tình buồn bã của tác gỉa, đã thế nhiều nhà báo, nhà thơ có tên tuổi đương thời đã đưa ra những chứng cớ để cố nhận người thi sĩ tài năng đầy bí ẩn đó là người yêu của mình.



    2. Những dữ kiện lên quan đến thân thế của TTKh.

    Như trên đã đề cập đến cái độc đáo của bài thơ kèm theo ý tứ của một mối tình buồn bã, lãng mạn... thêm vào đó sự bí mật về thân thế thi nhân càng làm cho người ta tò mò muốn biết về tác gỉa. Ðến nay đã gần 70 năm rồi, người ta vẫn phải nhận lấy những điều mù mờ về thân thế và cả những thêu dệt vô căn cứ về người nữ sĩ tài danh đó ! Sau đây là một vài sự kiện đã gây ra những xáo động dư luận trong giới thơ văn. Ðúng hay sai, tưởng tượng hay là một lối tìm nguồn thi hứng của những người làm văn nghệ...Ðến nay vẫn chỉ là những dấu hỏi mù mờ mà thôi!



    a.Dư luận với ký gỉa Thanh Châu : Như phần trên đã viết, truyện ngắn Hoa Tigôn của Thanh Châu trên báo Tiểu thuyết thứ bẩy đã là nguyên nhân xuất hiện những bài thơ diễm tình, lãng mạn bất tử của TTKh trong làng thơ tiền chiến.

    Nếu xét những diễn tiến cũng như tâm trạng buồn đau của người con gái trong truyện ngắn Hoa Tigôn và trong 4 bài thơ của TTKh, nhất là bài Hai sắc hoa Tigôn, người ta thấy nội dung hai bài gần như giống hệt nhau. Cũng vẻ ngây thơ của người con gái thủa ban đầu gặp gỡ người yêu, cũng bóng dáng người nghệ sĩ làm cho nàng nhớ mãi không quên dưới giàn hoa Tigôn kỷ niệm :

    Thủa trước hồn tôi phơi phới qúa

    Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương

    Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại

    Êm ái trao tôi một vết thương

    hay :

    Người ấy thường hay vuốt tóc tôi

    Thở dài trong lúc thấy tôi vui

    Bảo rằng : hoa giống như tim vỡ

    Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi .

    Rồi những câu thơ tả người thiếu phụ luôn luôn tưởng nhớ đến cố nhân , phải miễn cưỡng kéo dài cuộc sống nhàm chán bên người chồng luống tuổi mà mình không yêu... Tất cả những dữ kiện đó đã lột tả gần như hòa hợp rất khắng khít với cốt truyện ngắn của Thanh Châu.

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

    Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi

    Mà từng thu chết từng thu chết

    Vẫn dấu trong tim bóng một người

    Chính vì vậy ngay khi mấy bài thơ xuất hiện trên báo chí, ký gỉa Thanh Châu đã khẳng định với dư luận, TTKh chính là người con gái trong căn biệt thự ở ngoại ô Hà nội, là người yêu của ông.Sự xác định này đã quấy lên những xáo trộn nghì ngờ cũng có, tin tưởng cũng có trong làng thơ văn lúc bấy giờ.



    b. Dư luận với Nguyễn Bính: Có lẽ Nguyễn Bính cũng bị chinh phục bởi những vần thơ trữ tình, lãng mạn pha cảm giác đau buồn vì khắt khe của lễ giáo, danh dự gia đình của người thiếu phụ hoa Tigôn. Hình ảnh đau xót, lạnh lùng của người đàn bà đã phải chịu đựng suốt cuộc đời với người chồng mà nàng không yêu, nhưng vẫn giữ được tấm lòng son sắt, chung tình với cố nhân làm cho ông cảm động. Nguyễn Bính cũng nhập cuộc với cái xôn xao của làng thơ, ông cho rằng TTKh là ‘’ người tình vườn Thanh’’ xưa cũ của mình !

    Theo thi sĩ thì ngày ông còn trẻ, ở lứa tuổi còn thích giang hồ, đi Bắc, về Nam để tìm cảm hứng làm thơ. Có lần gặp buổi trời mưa lớn, ông ghé vào căn nhà trọ một vùng quê ở Thanh Hóa, căn nhà có một thửa vườn rất đẹp và ông gọi là vườn Thanh ( Thanh Hóa ). Cũng nơi đây ông đã gặp gỡ và yêu si một cô gái quay tơ xinh đẹp. Nhưng vì biết mình vẫn còn mang nặng kiếp giang hồ, thi sĩ đã không dám nghĩ đến việc nhân duyên, để rồi lại ra đi theo tiếng gọi của sông nước, tìm thi hứng cho thơ văn.

    Rồi nhiều năm sau đó khi có dịp trở lại vườn Thanh, thi sĩ được người lão bộc kể cho nghe một thiên tình hận ! Ngày nhà thơ bỏ ra đi đã làm lở dở mối tình của người thiếu nữ quay tơ, sau đó nàng phải bước sang ngang với một người chồng gìa tuổI, không yêu :

    Tơ duyên đến thế thì thôi,

    Thế là uổng cả một đời tài hoa

    Ðêm đêm bên cạnh chồng già

    Và bên cạnh bóng người xa hiện về...

    Với thời gian, thi sĩ Nguyễn Bính tưởng rằng đã quên được mối tình hận năm xưa, nhưng khi đọc mấy bài thơ của TTKh đã kéo ông lại với quá khứ ! Nhà thơ tìm thấy mối tình của TTKh mô tả trong mấy bài thơ giống y hệt như mối tình vườn Thanh của mình. Nhất là trong bài thơ thứ nhất tả cảnh cố nhân tiễn ông ra đi rồi trở về vườn Thanh để sống với nỗI cô đơn trong gío lạnh :

    Thổi tan âm điệu du dương trước

    Và tiễn người đi bến cát xa

    Ở lại vườn Thanh có một mình

    Tôi yêu gío lạnh lúc tàn canh

    Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành.

    Với cái cảm xúc có được từ hình ảnh đầy thi tứ, buồn thương đó, Nguyễn Bính đã làm một bài thơ khá dài ‘’ Giòng Dư Lệ ‘’ ông đề tặng riêng cho TTKh, người mà ông chắc chắn là cô gái quay tơ đã một lần thi sĩ gặp gỡ, yêu si. Trong bài thơ này ông mô tả tất cả những diễn tiến của cuộc tao ngộ lần đầu gặp nhau cho đến lúc ông xót đau than khóc khi đọc những bài thơ tâm sự của TTKh.

    Tuổi nàng năm ấy còn thơ

    Còn bao hứa hẹn đợi chờ một mai

    Rồi đây bao gío bụi đời

    Tôi quên sao được con người vườn Thanh.

    Ðể rồi thi sĩ chẳng ngại ngần gì xác quyết TTKh là người yêu vườn Thanh xa xưa của mình :

    Chuyện xưa hồ lãng quên rồi,

    Bỗng đâu xem được thơ người vườn Thanh

    Bao nhiêu oan khổ vì tình

    Cớ sao giống hệt chuyện mình ngày xưa?

    Phải chăng mình có nên ngờ

    Rằng người năm cũ bây giờ là đây ?



    c.Dư luận với thi sĩ Thâm Tâm: Với thi sĩ Thâm Tâm ( Nguyễn tuấn Trình, 1917-1948) có những dữ kiện và chứng minh rất hấp dẫn nói đến sự liên hệ tình cảm của ông với TTKh có vẻ như vững trãi hơn và đáng tin tưởng hơn so với ký gỉa Thanh Châu và thi sĩ Nguyễn Bính. Tuy nhiên nếu suy nghĩ kỹ lưỡng ngườI ta cũng không thể coi là hoàn toàn xác thực để cho vào văn học mà không có những dấu chấm hỏi nghi ngờ được !

    Dữ kiện đầu tiên từ bút hiệu TTKh đã là một dấu tích thuận lợi cho nhà thi sĩ Thâm Tâm tuyên bố với nhân gian là TTKh người yêu của mình vì đó là sự gán ghép hai tên Thâm Tâm và Khánh , tên của cô gái, người yêu của ông mà thành.

    Nhưng Phạm Thanh tác gỉa cuốn Thi Nhân Việt Nam Hiện Ðại lại cho rằng, đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên và tưởng tượng vu vơ của Thâm Tâm mà thôi. Thật ra TTKh chẳng phải là người yêu của ông nào cả. Nữ sĩ chính là Trần Thị Khánh (TTKh ), một nữ sinh ở phố Sinh Từ, Hà nội, cô ta yêu tha thiết một thanh niên, nhưng vì bị ép buộc của gia đình phải lấy một người đàn ông khác nhiều tuổi hơn, tên là Nghiêm.. Ðơn giản chỉ có thế mà thôi !

    Dư luận lúc đó cũng chẳng biết đúng sai ra sao vì sau khi ’’ Bài thơ cuối cùng’’’ được đăng báo vào giữa năm 1938 , TTKh biệt tích trên thi đàn. Nhưng mãi đến năm 1940 nhà thơ Thâm Tâm mới nhẩy vào để nhận là người yêu của nàng. Ông làm một bài thơ khá dài với đề tựa là ‘’Trả lời của người yêu ‘’ dành tặng riêng cho TTKh, trong đó ông đã gọi tên nữ sĩ là Khánh, một bài thơ rất hay, rất não nùng bằng những câu thơ có tí phiền giận tác gỉa TTKh, người yêu của ông :

    Khánh ơi, còn hỏi gì anh

    Ái tình đã vỡ, ái tình lại nguyên

    Em về đan nốt tơ duyên

    Vào tà áo mới đừng tìm mối xưa

    Bao nhiêu hạt lệ còn thừa

    Dành ngày sau khóc những giờ vị vong !

    Hay:

    Giờ hình như gió thổi nhiều

    Những loài hoa máu đã gieo nốt đời

    Tâm hồn nghệ sĩ nổi trôi

    Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh

    Sá chi những chuyện tâm tình

    Lòng đau, đau chứa trong bình rượu cay !

    Sau đó Thâm Tâm còn viết hai bài thơ khác nữa tặng riêng cho TTKh, bài ‘‘Mầu máu Tigôn’’ và bài ‘’ Dang dở ‘’ , đây là những bài thơ rất hay và rất cảm động của Thâm Tâm trong năm 1940.

    Suốt mây mươi năm sau đó nhiều người làm văn hoá vẫn cố tìm tòi thân thế thực của TTKh để xóa đi bóng tối bí mật của người nử sĩ tài năng đó, nhưng những cố gắng đó cũng chẳng đến đâu ! Mãi sau này tờ báo Nhân Dân ra ngày chủ nhật 23 tháng 7 năm 1989, ký gỉa Hoàng Tiến đã đưa ra một dữ kiện khác, trong đó ông ta cùng với hai thi sĩ đương thời là Trần Lê Văn và Tú Sót, cả ba người cho biết đã trực diện nghe nhà thơ Lương Trúc (tên thật là Phạm Quang Hoà, thuộc thế hệ cùng thời và là bạn thân của Thâm Tâm, Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. ) nói về sự liên hệ tình cảm giữa Thâm Tâm và TTKh.

    Nhà thơ Lương Trúc cho biết cách đây 4 năm ( 1985 ) ông có gặp TTKh, bà tên thật là Trần thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm. Theo ông, Thâm Tâm và cô Khánh yêu nhau nhưng không lấy được nhau, vì danh dự của gia đình cho nên họ hứa với nhau giữ kín mối tình đó. Rồi ngẫu nhiên cô Khánh đọc được truyện ngắn Hoa Tigôn của Thanh Châu trên Tiểu thuyết thứ bẩy số báo tháng 9 năm 1937, cô ta xúc động với tình tiết của câu truyện và làm ra bài thơ Hai sắc hoa tigôn gửi đi đăng báo. Bài thơ đã làm xáo động trong làng thi văn, rồi nàng gửi thêm Bài thơ thứ nhất với mục đính giải thích cho bài thơ Hai sắc hoa Tigôn.

    Ngoài ra TTKh còn viết tặng riêng cho Thâm Tâm bài thơ Ðan áo cho chồng. Thâm Tâm cảm động với ý tứ bài thơ và nhất là muốn chứng minh với dư luận đang ồn ào, TTKh chính là người yêu của mình, ông đã gửi bài thơ ‘’ Ðan áo’’ đến tâp san Phụ nữ thời đàm để phổ biến.

    TTKh không vừa ý với hành động đó của Thâm Tâm, vì thế cô ta viết một bài thơ khác lấy tên là Bài thơ cuối cùng, nói lên sự hờn trách người yêu đã vì hư danh mà đem quảng bá bài thơ mà nàng tặng riêng cho ông ra cho nhân gian biết. Nhưng trong những câu thơ hờn trách đó nàng vẫn không dấu được lòng yêu thương cố nhân :

    Tôi biết làm sao được hỡi trời

    Giận anh không nỡ ! Nhớ không thôi

    Mưa buồn, mưa hắt trong lòng uớt...

    Sợ qúa đi anh...Có một người !

    Dù với lời xác nhận của nhà thơ lão thành Lương Trúc nhưng vẫn chưa thật sự làm thỏa mãn dư luận được vì trong đó vẫn còn rất nhiều điểm mù mờ về thân thế, tên tuổi... của người nữ thi sĩ bí mật đó !



    d. Khám phá mới nhất về TTKh:

    Gần đây nhất, vào năm 1994 trong một tài liệu không lưu tên tác gỉa đã tiết lộ một tin tức mới nhất, được coi là đầy đủ nhất về thân thế của TTKh. Nhưng có lẽ người ta vẫn cần thời gian để xác nhận mức độ xác thực của tiết lộ này. Theo tài liệu cho biết một người đàn bà dấu tên D.T.L. đã cho nhà văn Thế Nhật biết như sau:

    Bốn chữ TTKh có ý nghĩa như sau :

    -Chữ T đầu tiên là TRẦN, là tên họ của nữ thi sĩ Trần thị Chung tác gỉa của bốn bài thơ bất tử đó, nhưng thường gọi là Trần thị Vân Chung, bà sinh ngày 25 tháng 8 năm 1919 tại thị xã Thanh Hóa, nhưng trưởng thành ở Hà nội trong một gia đình quan lại. Bà Vân Chung hay là TTKh có một người anh cả, hai người em gái và một người em trai út. Năm 1934 qua mối mai của gia đình bà kết hôn với luật sư Lê Ngọc Chấn của VNCH, sau năm 1975 ông Chấn bị chết trong trại cải tạo.

    Hiện nay bà cùng con cái sống ở một thị xã nhỏ miền nam nước Pháp, bà vẫn tiếp tục viết văn làm thơ với nhiều bút hiệu khác nhau như Vân Nương, Tơ Sương..v..v..

    -Chữ T thứ hai, có nghĩa là Thanh, để chỉ tên ký gỉa Thanh Châu, tác gỉa truyện ngắn ‘’Hoa Tigôn’’. Cốt truyện đã mang đến cho bà sự cảm xúc tột cùng với mối tình đầy lãng mạn, chung thủy, đã cho bà thi hứng để làm được những bài thơ tuyệt vời mang đầy cảm giác giận hờn, thương đau và cao thượng .

    -Chữ Kh có nghĩa là khóc! Bà khóc thay cho mối tình dang dở với những trái ngang làm cho người thiếu phụ phải sống trọn cuộc đời với người chồng mà mình không yêu nhưng cũng không thể quên được người tình xưa cũ của mình.

    Nếu tiết lộ trong tài liệu này là đúng thì tất cả những sự kiện liên quan đến tên tuổi, thân thế của TTKh trong nhiều thập niên qua, cũng như những thêu dệt lâm ly, trữ tình của ký gỉa Thanh Châu, thi sĩ Nguyễn Bính, Thanh Tâm và cả thi sĩ J. Leiba chỉ còn là những tưởng tượng vu vơ, mà những người làm văn nghệ cần đến nó để dìm mình vào thế giới mộng ảo cho việc tìm cảm hứng để sáng tác mà thôi.



    3. Kết luận:

    Bản chất của thơ văn là tưởng tượng và hư cấu. Khi bước vào thơ văn để thưởng thức cái hay, cái cảm của một áng văn, một bài thơ... Người ta phải biết trải rộng tâm hồn mình ra tiếp nhận những cảm xúc đưa đến từ bài thơ, bản văn đó. Ðiều đó có nghĩa là người ta phải sống và hoà nhập vào nội dung của tác phẩm, phải biết vui buồn, đau khổ hay hoan lạc, giận hờn với những hoàn cảnh éo le của nhân vật trong tác phẩm. Có được những cái đó trong khi thưởng thức thì coi là ‘’ Ðạt’’ vậy ! Người ta cần biết thân thế hay cuộc đời riêng tư của tác gỉa để làm gì ?Ðôi khi sự tìm tòi, tò mò đó chẳng có lợi ích gì cho cái thú thưởng lãm của người đọc mà còn mang đến cho người đọc có cái nhìn sai lệch vì chủ quan, thành kiến với cá nhân tác gỉa nữa.

    Với cái quan niệm đó, người ta nên nghĩ rằng bốn bài thơ của TTKh đã quá đủ để làm cho người đọc ngẩn ngơ vì cái hay, cái xúc tích biết bao nhiêu cảm giác đau buồn, thương nhớ, giận hờn... đôi lúc đã làm người đọc phải lịm người mà nước mắt ướt mi...Như vậy là đủ rồi ! Chúng ta cần gì phải thắc mắc TTKh là ai làm gì nhỉ ? Nàng là cô nữ sinh Trần thị Khánh ở phố Sinh Từ, Hà Nội. Nàng là Trần vân Chung hay Trần thị Vân Chung cô gái đất Thanh hoá... Nàng là ai cũng thế mà thôi! Ðiều quan trọng mà chúng ta biết rất rõ, những bài thơ của TTKh là những bài thơ rất hay, sẽ mãi mãi bất tử trong thi đàn VN. Thế là đủ rồi !

    Cũng nhân tiện trong bài viết có lẽ chúng ta cũng nên biết sơ qua về loài hoa Tigôn mà nó đã là đề tựa cho bốn bài thơ của TTKh ra đời. Hoa Tigôn là một loại hoa leo, có hai loại, loại cho ra hoa mầu trắng và loại cho ra hoa mầu đỏ hay hồng tươi, có thể mọc ở toàn cõi VN. Lá Tigôn mầu xanh, hình tim như lá trầu nhưng nhỏ cỡ 3 ngón tay. Hoa Tigôn nhỏ bằng đầu chiếc đũa ăn cơm, mọc thành chùm, hoa tigôn có 5 cánh hình trái tim, hai cánh nhỏ ở trong và 3 cánh lớn hơn chụm vào nhau bao ở ngoài. Khi gặp gió hay mưa hoa rụng từ cuống hoa, rơi xuống đất nhưng vẫn còn nguyên cả bông hoa chứ cánh hoa không tách rờI ra tơi tả như TTKh mô tả trong thơ của bà:

    Thủa đó nào tôi đã hiểu gì

    Cánh hoa tan tác của sinh ly


    (Sưu tầm)
     
  3. Sưu Tầm

    Sưu Tầm Administrator

    Tham gia ngày:
    6/4/15
    Bài viết:
    26
    Đã được thích:
    4
    Điểm thành tích:
    3
    Giới tính:
    Nữ
    T.T.Kh. với những câu thơ xót xa cảm động:
    (Nguồn: Internet)


    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời


    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi

    Và từng thu chết, từng thu chết

    Vẫn giấu trong tim một bóng người...

    Vậy T.T.Kh. là ai? Nam hay nữ? Bút danh này chỉ thấy ghi ở ba bài thơ đăng trong Tiểu thuyết thứ bảy và một bài trên báo Phụ nữ, rồi thôi, không thấy xuất hiện nữa.

    Ông Hoài Thanh, năm 1941, có soạn cuốn Thi nhân Việt Nam cũng trích dẫn T.T.Kh. với lời ghi chú: "Sau khi bài thơ kia đăng rồi, xóm nhà văn bỗng xôn xao, đến mấy người nhất quyết T.T.Kh. chính là người yêu của mình. Và người ta đã phê bình rất náo nhiệt. Có kẻ không ngần ngại cho những bài thơ ấy là những áng thơ kiệt tác...".

    Hôm nay xin công bố với bạn đọc, một thông tin chúng tôi được biết về T.T.Kh. Người kể còn sống, mà T.T.Kh. cách đây bốn năm vẫn còn gặp. Chúng tôi thấy cần phải công bố ngay vì nó có lợi cho việc là văn học sử sau này.

    Số là vào dịp hội đền Bà Tấm năm nay (Kỷ Tỵ, 1989), chúng tôi rủ nhau sang Phú Thụy dự hội. Cùng đi có nhà thơ Lương Trúc thuộc lớp thơ trước Cách mạng tháng Tám, năm nay đã 74 tuổi (tên thật là Phạm Quang Hòa), bạn thân với các nhà thơ Thâm Tâm, Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Chính bài Tống biệt hành Thâm Tâm viết tặng Phạm Quang Hòa khi đi hoạt động cách mạng. Nguyễn Bính cũng có bài thơ tặng Phạm Quang Hòa mở đầu bằng hai câu:

    Tôi và anh: Bính và Hòa

    ở đây xa chị, xa nhà, xa em...

    Và đây kết thúc bằng hai câu:

    Đây là giọt lệ phân ly

    Ngày mai tôi ở, anh đi, bao giờ...?

    Nhà thơ Lương Trúc là người cung cấp tư liệu, và tất nhiên ông sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm về họ tên tác giả Hai sắc hoa ti-gôn được công bố dưới đây. Cùng nghe hôm đó với tôi có nhà thơ Trần Lê Văn và nhà thơ Tú Sót.

    T.T.Kh. tên thật là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm. Hai người yêu nhau, nhưng biết không lấy được nhau, hẹn giữ kín mối tình, để đỡ phiền đến gia đình của nhau sau này. Cô Khánh đọc Tiểu thuyết thứ bảy in truyện ngắn Hoa ti-gôn của Thanh Châu (số tháng 9-1937) xúc động, tự thổ lộ câu chuyện riêng bằng bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn và gửi đăng Tiểu thuyết thứ bảy.

    Bài thơ in ra gây xôn xao trong làng văn chương như ông Hoài Thanh ghi nhận. Tiếp đó để giải thích lý do viết bài Hai sắc hoa ti-gôn, T.T.Kh. gửi đến Tiểu thuyết thứ bảy một bài nữa, với tiêu đề là Bài thơ thứ nhất và viết tặng riêng Thâm Tâm bài thơ Đan áo.

    Lại càng xôn xao, nhiều người cho là nam giới giả danh, nhiều người nhận là người yêu của mình, trong số này có nhà thơ Nguyễn Bính.

    Thâm Tâm hồi ấy còn trẻ, với tính hiếu thắng của tuổi trẻ, ông đã gửi báo Phụ nữ đăng bài thơ Đan áo để minh chứng với thiên hạ rằng T.T.Kh. chính là người yêu của mình. Tất nhiên không có sự đồng ý của T.T.Kh.

    Và thế là T.T.Kh. giận, cô viết bài thơ lấy tiêu đề Bài thơ cuối cùng gửi đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy, vừa hờn vừa giận đầy yêu thương, và cũng từ đấy T.T.Kh. "tắt lịm" trên thi đàn.

    Sau này, Thâm Tâm có viết một bài thơ dài để trả lời T.T.Kh. bài Các anh, (tập thơ mới của Thâm Tâm, nhà xuất bản Văn học 1987, có in bài Các anh nhưng đây chỉ mới trích một phần).

    Lời bàn: Có người viết hàng trăm bài thơ, in hơn chục tập thơ, mà không gây được mộ vang hưởng nào trong nghệ thuật thơ. T.T.Kh. viết bốn bài, có bài đã gây được vang hưởng.

    Thơ hay đâu cần nhiều.

    Phê-lích ác-ve (Félix Arvers, 1806-1850) chỉ nhờ bài Tình tuyệt vọng mà tên tuổi được ghi trong văn học sử Pháp. Mới hay trong "lãnh địa" nghệ thuật, số lượng chỉ là cái không đáng kể. T.T.Kh. cần phải đợc xem xét và đáng giá như một tác giả của dòng thơ lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám. Điều đó không có gì là quá đáng.

    Được biết T.T.Kh. về sống ở Thanh Hóa đã bốn năm nay, không biết bây giờ bà còn hay mất, nhưng cứ xin phép cho chúng tôi được công bố điều bí mật trên vì nghĩ rằng:

    Thời gian đi đã dài, nhà thơ Thâm Tâm đã mất, ông nhà cũng quy tiên. Vả lại, cũng vì công việc của văn sử học, nếu đã tìm ra tác giả của một tác phẩm nổi tiếng thì dù đắn đo đến đâu rồi cũng phải công bố.

    Hoàng Tiến
    (Nhân dân Chủ nhật số 23 tháng 7-1989)
     
  4. Sưu Tầm

    Sưu Tầm Administrator

    Tham gia ngày:
    6/4/15
    Bài viết:
    26
    Đã được thích:
    4
    Điểm thành tích:
    3
    Giới tính:
    Nữ
    Bài thơ thứ nhất
    T.T.Kh.

    Thuở trước hồn tôi phơi phới quá
    Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương
    Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại
    Êm ái trao tôi một vết thương.


    Tai ác ngờ đâu gió lại qua
    Làm kinh giấc mộng những ngày hoa
    Thổi tan tâm điệu du dương trước
    Và tiễn người đi bến cát xa.


    Ở lại vườn Thanh có một mình
    Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh
    Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo
    Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.


    Và một ngày kia tôi phải yêu
    Cả chồng tôi nữa lúc đi theo
    Những cô áo đỏ sang nhà khác
    Gió hỡi làm sao lạnh rất nhiều.


    Từ đấy không mong không dám hẹn
    Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm
    Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ
    Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em.


    Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên
    Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
    Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
    Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên.


    Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ
    Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ
    Tóc úa giết dần đời thiếu phụ
    Thì ai trông ngóng chả nên chờ.


    Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá
    Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa:
    “Cố quên đi nhé câm mà nín
    Đừng thở than bằng những giọng thơ”.


    Tôi run sợ viết lặng im nghe
    Tiếng lá thu khô xiết mặt hè
    Như tiếng chân người len lén đến
    Song đời nào dám gặp ai về.


    Tuy thế tôi tin vẫn có người
    Thiết tha theo đuổi nữa than ôi
    Biết đâu tôi một tâm hồn héo
    Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.


    (Tiểu thuyết thứ bảy, số 182, 20-11-1937)
     
  5. Sưu Tầm

    Sưu Tầm Administrator

    Tham gia ngày:
    6/4/15
    Bài viết:
    26
    Đã được thích:
    4
    Điểm thành tích:
    3
    Giới tính:
    Nữ
    Đan áo cho chồng
    T.T.Kh.

    Chị ơi, nếu chị đã yêu
    Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương
    Đã xa hẳn quãng đời hương
    Đã đem lòng gửi gió sương mịt mùng

    Hay chăng chị mỗi chiều đông
    Đáng thương những kẻ có chồng như em
    Vẫn còn giá lạnh trong tim
    Đan đi đan lại áo len cho chồng

    Con chim ai nhốt trong lồng
    Hạt mưa nó rụng bên sông bơ thờ
    Lưng trời nổi tiếng tiêu sơ
    Hay đâu gió đã sang bờ ly tan

    Tháng ngày miễn cưỡng em đan
    Kéo dài một chiếc áo lam cho chồng
    Như con chim nhốt trong lồng
    Tháng ngày than tiếc ánh hồng nơi nao

    Ngoài trời hoa nắng xôn xao
    Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm
    Ai đem lễ giáo giam em
    Sống hờ hết kiếp trong duyên trái đời

    Lòng em khổ lắm chị ơi
    Trong bao ngờ vực với lời mỉa mai
    Quang cảnh lạ, tháng năm dài
    Đêm đêm nằm tưởng ngày mai giật mình.

    (Phụ nữ thời đàm)
     
  6. Sưu Tầm

    Sưu Tầm Administrator

    Tham gia ngày:
    6/4/15
    Bài viết:
    26
    Đã được thích:
    4
    Điểm thành tích:
    3
    Giới tính:
    Nữ

    Bài thơ cuối cùng
    T.T.Kh.

    Anh hỡi, tháng ngày xa quá nhỉ?
    Một mùa thu cũ một lòng đau...
    Ba năm ví biết anh còn nhớ,
    Em đã câm lời có nói đâu!


    Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly,
    Càng khơi càng thấy lụy từng khi
    Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
    Mà viết tình em được ích gì?


    Chỉ có ba người đã đọc riêng
    Bài thơ "đan áo" của chồng em
    Bài thơ "đan áo" nay rao bán
    Cho khắp người đời thóc mách xem...


    Là giết đời nhau đấy biết không?
    ...Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
    Giận anh, em viết dòng dư lệ,
    Là chút dư hương điệu cuối cùng!


    Từ nay anh hãy bán thơ anh
    Còn để yên tôi với một mình
    Những cánh hoa lòng, hừ! đã ghét
    Thì đem mà đổi lấy hư vinh.


    Ngang trái đời hoa đã úa rồi,
    Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi...
    Buồng nghiêm thờ thẩn hồn eo hẹp
    Đi nhớ người không muốn nhớ lời!


    Tôi oán hờn anh mỗi phút giây,
    Tôi run sợ viết, bởi rồi đây,
    Nếu không yên được thì tôi ... chết
    Đêm hỡi, làm sao tối thế này?


    Năm lại năm qua cứ muốn yên
    Mà phương ngoài gió chẳng làm quên;
    Và người vỡ lỡ duyên thầm kín
    Lại chính là anh? anh của em!


    Tôi biết làm sao được hỡi trời?
    Giận anh không nỡ nhớ không thôi!
    Mưa buồn mưa hắt trong lòng ướt...
    Sợ quá đi, anh... "có một người"!…


    (Tiểu thuyết thứ bảy, số 217, 23-7-1938)
     
  7. Sưu Tầm

    Sưu Tầm Administrator

    Tham gia ngày:
    6/4/15
    Bài viết:
    26
    Đã được thích:
    4
    Điểm thành tích:
    3
    Giới tính:
    Nữ
    Hai Sắc Hoa Ti Gôn
    Tác giả: TTKh

    Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
    Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
    Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
    Tôi chờ người đến với yêu đương

    Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
    Dải đường xa vút bóng chiều phong
    Và phương trời thẳm mờ sương cát
    Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng

    Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
    Thở dài trong lúc thấy tôi vui
    Bảo rằng: hoa giống như tim vỡ
    Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi

    Thuở đó nào tôi đã hiểu gì
    Cánh hoa tan tác của sinh ly
    Cho nên cười đáp: Màu hoa trắng
    Là chút lòng trong chẳng biến suy

    Đâu biết lần đi một lỡ làng
    Dưới trời đau khổ chết yêu đương
    Người xa xăm quá, tôi buồn lắm!
    Trong một ngày vui pháo nhuộm đường

    Từ đấy thu rồi, thu lại thu
    Lòng tôi còn giá đến bao giờ
    Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
    Người ấy, cho nên vẫn hững hờ

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
    Mà từng thu chết, từng thu chết
    Vẫn giấu trong tim bóng một người

    Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết
    Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
    Nhưng hồng, tựa trái tim tan vỡ
    Và đỏ như màu máu thắm pha

    Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
    Một mùa thu trước rất xa xôi
    Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
    Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi

    Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ
    Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
    Gió về lạnh lẽo, chân mây trắng
    Người ấy sang sông đứng ngóng đò

    Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
    Trời ơi, người ấy có buồn không?
    Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
    Tựa trái tim phai, tựa máu hồng.
     
  8. Sưu Tầm

    Sưu Tầm Administrator

    Tham gia ngày:
    6/4/15
    Bài viết:
    26
    Đã được thích:
    4
    Điểm thành tích:
    3
    Giới tính:
    Nữ
    Gửi T.T. Kh.

    Các anh hãy uống thật say,
    Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im
    Giờ hình như quá nửa đêm?
    Lòng đau đem lại cái tin cuối mùa


    Hơi đàn buồn như trời mưa
    Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi
    Giờ hình như ở ngoài trời
    Tiếng xe đã nghiến đã rời rã đi.

    Hồn tôi lờ mờ sương khuya
    Bởi chưng tôi viết bài thơ trả lời
    Vâng, tôi biết có một người
    Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng


    Ðể hôm sau khóc trong lòng
    Vâng tôi có biết cánh đồng thời gian
    Hôm nay rụng hết lá vàng
    Và tôi lỡ chuyến chiều tàn về không.


    Tiếng xe trong vết bụi hồng
    Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ.
    Tiếng xe trong xác pháo xưa,
    Nàng đi có bốn bài thơ trở về.


    Tiếng xe mở lối vu qui
    Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời!
    Miệng chồng Khánh gắn trên môi
    Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ.


    Từ ngày đàn chia đường tơ
    Sao tôi không biết hững hờ nàng đan.
    Kéo dài một chiếc áo len
    Tơ càng đứt mối, nàng càng nối giây.


    Nàng còn gỡ mãi trên tay
    Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.
    Góp hai thứ tóc đôi đầu,
    Sao còn đan nối những câu tâm tình?


    Từng năm từng đứa con non
    Mỉm cười vá kín vết thương lại lành.
    Khánh ơi còn hỏi gì anh?
    Xưa tình đã vỡ, nay tình lại nguyên


    Em về đan mối tơ duyên
    Vào tà áo mới, đừng tìm duyên xưa.
    Bao nhiêu giọt lệ còn thừa,
    Hãy dành mà khóc những giờ vị vong.


    Bao nhiêu giọt lệ còn thừa,
    Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng, hồn cha.
    Nhắc làm chi chuyện đôi ta
    Cuộc đời anh đã phong ba dập vùi...

    Hãy vui lên các anh ơi
    Nàng đi, tôi gọi hồn tôi trở về
    Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe
    Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều


    Giờ hình như gió thổi nhiều
    Những loài "hoa máu" đã gieo nốt đời.
    Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi
    Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh?


    Sá chi những chuyện tâm tình
    Lòng đau đem chứa trong bình rượu cay.


    Thâm Tâm
    (Tiểu thuyết thứ bảy, số 307, 4-5-1940)
     
  9. Sưu Tầm

    Sưu Tầm Administrator

    Tham gia ngày:
    6/4/15
    Bài viết:
    26
    Đã được thích:
    4
    Điểm thành tích:
    3
    Giới tính:
    Nữ
    Màu máu ti gôn
    Gửi TTKh.

    Người ta trả lại cánh hoa tàn
    Thôi thế tình duyên đành dở dang
    Màu máu Ti - Gôn đà biến sắc
    Tim người yêu cũ phủ màu tang.

    K. hỡi, người yêu của tôi ơi!
    Nào ngờ em giết chết một đời
    Dưới mồ đau khổ anh ghi nhớ
    Hình ảnh em hoài mãi không thôi.

    Quên làm sao được thuở ban đầu
    Một cánh Ti - Gôn dạ khắc sâu
    Một cánh hoa xưa màu hy vọng
    Nay còn dư ảnh trái tim đau.

    Anh biết làm sao được hở trời
    Dứt tình sao nỡ nhớ không thôi
    Xin em hãy giữ màu hoa úa
    Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời.

    -Thâm Tâm-
     
  10. Sưu Tầm

    Sưu Tầm Administrator

    Tham gia ngày:
    6/4/15
    Bài viết:
    26
    Đã được thích:
    4
    Điểm thành tích:
    3
    Giới tính:
    Nữ
    Dang Dở

    Khi biết lòng anh như đã chết,
    Mây thôi hồng mà lá cũng thôi xanh.
    Màu hoa tươi cũng héo ở trên cành.
    Và vũ trụ thãy một màu đen tốị

    Anh cố giữ lòng anh không bối rối,
    Để mơ màng tưởng nhớ phút giây xưạ
    Em cùng anh sánh gót dưới bóng dừa,
    Một đêm trăng sáng trên đường đá đỏ.

    Em nói những gì? Anh còn nhớ rõ,
    Nhưng làm sao? Ai hiểu tại làm sao?
    Chim muốn bay, cũng giữ chẳng được nào,
    Tình đã chết, có mong gì sống lại!

    Anh không trách chi em điều ngang trái,
    Anh không buồn số kiếp quá mong manh!
    Có gì đâu bướm muốn xa cành,
    Anh cứ tiếc cái gì xưa đã chết.

    Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết,
    Anh càng buồn càng muốn kết thành thơ,
    Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ,
    Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn.

    Và thành chúc đời em luôn tươi sáng,
    Như mộng kiều đầm ấm tuổi xuân xanh,
    Như hương trinh bát ngát ý dịu lành,
    Hòa nhạc mới chiều dâng tơ hạnh phúc.

    Cuộc ly biệt ngờ đâu vừa đúng lúc,
    Lòng bâng khuâng, bối rối trước khúc quanh,
    Đi không đành, mà ở cũng không đành,
    Muôn chim Việt hãy về thành Nam cũ.

    Chiều nay lạnh, có nhiều sương rơi quá,
    Nhưng lòng anh đã bình thản lại rồị
    Hết đau buồn và cảm thấy sục sôị
    Niềm uất hận của một thời lạc lốị

    Lấy nghệ thuật làm trò hề múa rối,
    Đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền.
    Để khẩn cầu xin một nụ cười duyên;
    Nàng kiều nữ chốn lầu hoa thầm kín.

    Trong khi đó, thanh niên không bịn rịn.
    Giã gia đình, trường học để ra đị
    Họa xâm lăng đe dọa ở biên thùy,
    Kêu gọi lính giục lòng trai cứu quốc.

    Thôi em nhé! từ đây anh cất bước,
    Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vuị
    Đừng buồn thương, nhớ, tiếc, hoặc ngậm ngùi,
    Muôn việc thảy đều do nơi số kiếp

    THÂM TÂM
     
  11. meoxinh0112

    meoxinh0112 New Member

    Tham gia ngày:
    6/1/17
    Bài viết:
    2
    Đã được thích:
    1
    Điểm thành tích:
    3
    Giới tính:
    Nữ
    Website kết bạn - Hopdongtinhyeu.vn được xây dựng từ năm 2005, với mục đích giúp đỡ hàng trăm triệu người Việt ở tại Việt Nam (nói riêng), trên toàn thế giới (nói chung) có một cuộc hôn nhân hạnh phúc với một gia đình đầm ấm.

    Hopdongtinhyeu.vn là cổng thông tin tìm kiếm người yêu - bạn đời đầu tiên có hệ thống "chỉ số phù hợp đi đến kết hôn" theo đó so sánh 04 yếu tố như "Môn đăng hộ đối về điều kiện kinh tế, gia cảnh, học vấn", "Mẫu tính cách cá nhân", "Mong muốn tính cách của đối tượng bạn đời” và "Số mệnh của hai người là Mệnh - Thiên can - Địa Chi - Cung mệnh". Qua đó giúp người dùng có thể nhận biết rõ và lựa chọn người bạn đời nhiều gấp 10 lần so với những cách giới thiệu mai mối cũ.

    Hopdongtinhyeu.vn cũng là cổng thông tin duy nhất thực hiện "Chứng thực hồ sơ thành viên" xác thực và công chứng thông tin nhân thân thực tế của các thành viên tham gia như chứng minh thư, bằng cấp, sổ hộ khẩu, hợp đồng lao động, qua đó đảm bảo tính nghiêm túc và độ tin cậy khi tham gia làm quen, kết bạn.

    Với hơn 200.000 thành viên, tiếp cận với 600.000 đối tượng độc thân, hopdongtinhyeu.vn là đơn vị đầu ngành tại Việt Nam trong lĩnh vực mai mối kết hôn.
     

Chia sẻ trang này