BÀN TỪ HÁN VIỆT VÀ TỪ THUẦN VIỆT HÓA

Thảo luận trong 'THƠ ĐƯỜNG LUẬT' bắt đầu bởi Thiết Dương, 27/5/15.

  1. Thiết Dương

    Thiết Dương Administrator Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    6/4/15
    Bài viết:
    1,446
    Đã được thích:
    162
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    TỪ HÁN VIỆT TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

    Kính thưa các bạn !

    Vừa qua, Thiết Dương nhận được khá nhiều ý kiến của các bạn, hỏi về các phép đối và sử dụng các từ Hán Việt trong 2 cặp thực - luận của thơ TNBC đường luật.

    Trước khi bàn luận về các phép đối trong thơ đường luật. Hôm nay, TD sẽ trao đổi với các bạn sơ qua về từ Hán Việt và từ Thuần Việt, để chúng ta sử dụng trong các cặp đối cho hay và không bị thất đối.


    VỀ ĐỊNH NGHĨA:

    + Từ Hán Việt: là từ vựng sử dụng trong tiếng Việt có gốc từ tiếng Trung Quốc nhưng đọc theo âm Việt. Ngày nay được ghi bằng ký tự Latinh.

    + Từ Thuần Việt: là cốt lõi, cái gốc của từ vựng tiếng Việt. Chữ "thuần" trong "từ thuần Việt" có nghĩa là bản ngữ (ngôn ngữ bản địa) hay thuần chủng không pha tạp.

    + Về mặt nguồn gốc, cơ sở hình thành của lớp từ thuần Việt là các từ gốc Nam phương, bao gồm cả Nam Á và Tày Thái. Những kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy rằng nhiều bộ phận, nhiều nhóm của lớp từ thuần Việt có những tương ứng, những quan hệ hết sức phức tạp với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ trong vùng - miền.
    Ví dụ:
    Tương ứng Việt-Mường: vợ, chồng, ăn, uống, cười, bơi, nằm, khát, trốn, gáy, mỏ, mâm, rá, chum, nồi, vại, váy, cơm, cây, củ, rạ, mây, caugà, trứng...

    Tương ứng Việt – Tày Thái: đường, rẫy, bắt, bóc, buộc, ngắt, gọt, đẵn, bánh, vắng, mo, ngọn, mọn, méo, vải, mưa, đồng, móc, nụ, gà, chuột, đâm...

    Tương ứng với các ngôn ngữ nhóm Việt Mường đồng thời với nhóm Bru-Vân Kiều: trời, trăng, đêm, bụng, ruột, kéo, bốc, ngáy, khạc, củi, hột, rắn, khô...

    Tương ứng với nhóm ngôn ngữ Mon-Khmer ở Tây Nguyên Việt Nam: trời, mây, mưa, sấm, sét, bàn chân, đầu gối, da, thịt, mỡ, mày, nó, nuốt, cắn, nói, kêu, còi, mặc, nhắm, bếp, chổi, đọi...

    Tương ứng với nhóm Việt-Mường và các ngôn ngữ Mon-Khmer khác: sao, gió, sông, đất, đá, người, tóc, mặt, mắt, mũi, răng, lưỡi, cổ, lưng, tay, chân, máu, xương, cằm, đít, con, cháu...

    Tương ứng với nhóm Việt Mường và Tày Thái: bão, bể, bát, dao, gạo, ngà voi, than, phân, cày, đen, gạo, giặt...

    Tương ứng Việt – Indonesia: đất, trâu, sông, cái, cây, núi, đồng, nghe, đèn, đêm, trắng, tuổi, ăn, cướp, bướm, sáng, rất, nấu, này/ni, là, rằng, ngày...

    + Từ thuần Việt hóa: Trong quá trình phát triển hội nhập, và trong quá trình hoàn thiện ngôn ngữ giao tiếp, các từ có nguồn gốc là Hán, Ấn, Âu… nhưng được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, đã trở thành quen thuộc, ta coi như từ thuần Việt hóa. (Hiện nay, ở một số lớp dạy thơ đường luật tự phát, một số giáo viên hướng dẫn vẫn đang rất khắt khe, chưa chiịu công nhận các từ tuy có gốc Hán, nhưng đã có trong từ điển tiếng Việt, là từ thuần Việt hóa. Như vậy đã làm hạn chế đi kho từ vựng rất hay, đã được mọi người sử dụng thường xuyên). -> Ai dám nói rằng: Từ có trong từ điển tiếng Việt không phải là từ Việt? (chẳng qua là chúng có nguồn gốc khác nhau mà thôi: hoặc là từ thuần Việt, hoặc là được thuần Việt hóa từ các nguồn khác)

    + Như vậy, các từ có trong từ điển tiếng Việt, ta coi là từ thuần Việt, và chỉ sử dụng nghĩa của từ đúng theo từ điển. Cũng là từ đó, nhưng nếu sử dụng nghĩa khác thì phải ghi chú, và lúc này không còn là từ thuần Việt nữa.

    VD: từ ÁI: theo từ điển Hán Việt thì có rất nhiều nghĩa, nhưng trong từ điển tiếng Việt, có nghĩa là YÊU THƯƠNG. Vì vậy, nếu sử dụng nghĩa này thì coi là từ thuần Việt hóa, còn nếu sử dụng nghĩa khác sẽ được coi là từ Hán Việt),

    Mong các anh chị và các bạn trao đổi thêm để cùng áp dụng nhé !

    23/10/2014
    Thiet Duong

    [​IMG]
     
    Angela Trinh thích bài này.

Chia sẻ trang này